Saturday, December 21, 2019

Truyện ngắn: Không Chốn Dung Thân - Lê Nam Phương (thi sĩ Lê Văn Trung)

KHÔNG CHỐN DUNG THÂN

                 Truyện ngắn Lê Nam Phương
                           (Lê Văn Trung)


Đôi khi người sống không phải vì muốn sống. Người ta phải sống vì không thể chết được. Thế là phải sống. Cho dù sống chui sống nhủi, sống lăn sống lốc, sống trầy sống trụa, sống hụp lên lặn xuống, sống trôi sống nổi, sống cơ sống cực, sống lang thang lếch thếch. Và cứ phải căng hai con mắt ra mà nhìn cuộc đời, nhìn người và nhìn mình, nhìn thấy cái rách rưới tanh hôi, nhìn thấy cái bọt bèo rác rến, nhìn thấy cái lọc lừa xảo quyệt, nhìn thấy đình chùa miếu mảo đầy các ông sư bà vải, tấp nập thiện nam tín nữ xì xụp lạy xin cái lợi cái danh, nhìn thấy ông Chúa ông Phật được sơn son thếp vàng để chở che giùm lắm cái nổi cái chìm nằm trong cái bụng to hơn cái đầu, nhìn thấy phố xá đông vui phố phường tấp nập bên ngoài khu ổ chuột, và nhìn thấy các em cởi truồng đi ngang về dọc khắp chốn khắp nơi để minh chứng cho một xã hội công bằng dân chủ văn minh…và để nhìn thấy lắm kẻ không thể nuốt nổi một bữa điểm tâm trị giá gần cả trăm ngàn đồng bên cạnh những con người không mua nổi ổ bánh mì lót dạ để có sức đạp chiếc xích lô.


Dĩ nhiên là phải nhìn tất cả, bởi vì còn sống nhăn ra đấy cho dù không đủ cháo đủ rau để lấp đầy cái dạ dày, cho dù tấm vải rách không che đủ ấm cho xương da.  Không thể nhắm mắt bịt tai, nên phải thấy phải nghe.  



Nghe cuộc đời chảy lạo xạo trong đầu một dòng sông đục ngầu đầy xác người và xác súc vật, đầy cứt đáy bọ sâu…. Nghe cuộc đời chảy trong đầu những cơn bão tố thổi sập cả căn nhà đạo lý, thổi bay cả cột kèo chống đỡ bao ngàn năm, thổi bay cả tấm lòng con người, chỉ còn trơ lại đất đá gạch vụn ngổn ngang lúc nhúc một bầy cơ hội…


Muốn chết cũng không được, nên phải sống, và sống là phải nhìn phải nghe như thế, cho dù vào cái ngày đen tối nhất của lịch sử đời mình ông đã phải quyết định từ bỏ cái xã hội này mà vào sâu trong rừng.  



Sống với rừng với núi với khe với suối.  Sống với chim với chóc với cỏ cây.  Ông dắt díu vợ con, gánh gồng linh tinh nào áo rách quần vá, thau bể chậu hư, vào rừng.  Chỉ có rừng núi hoang vu.  Vợ ông dù không muốn vẫn phải nghe lời chồng.  Chị cam đành làm theo quyết định của chồng nhưng chị không khỏi ngậm ngùi mỗi lần nhìn mình trong gương. 



Người phụ nữ nhan sắc một thời nay đã đành bỏ lại quảng đời thanh xuân đằng sau bức mành lịch sử.  Đôi lúc một mình trong suối, chị trút bỏ hết quần áo, đầm mình trong dòng nước mát, chợt những rạo rực xưa cũ trở về làm xao xuyến trong lòng và làm hai bầu vú chị trắng như hoa quỳnh căng cứng lên.  Hai giọt nước mắt ứa ra trôi xuống như một số phận đã buông trôi.


Mấy đứa con chị còn quá nhỏ, chúng chẳng có một ý niệm gì về cuộc đổi thay.  Đối với chúng bỏ phố phường vào rừng chỉ là một cuộc dã ngoại, một chuyến du lịch vài ngày.  Chúng tha hồ đuổi theo những con bướm màu sặc sỡ, hái những chùm bông dại ngát hương.  Nhất là được lội trong suối, những con cá, những con cua đá, những viên cuội đủ màu.  Chúng luôn nằm mơ những cảnh thần tiên và chúng cười vang trong mơ.


Ông thì luôn im lặng.  Một mình lầm lũi chặt cây cắt tranh. Một tháng tránh mưa tránh nắng trong mấy tấm bạt, giờ thì cả nhà đã có một cái lều sàn nho nhỏ. Và đêm, ánh lửa chập chờn, than củi nổ tí tách, cả nhà ngồi quanh một nồi khoai mì, một rổ rau rừng, một bát nước muối.  Đói, cái gì ăn cũng ngon.  Lũ trẻ ăn no lăn ra trên sạp tre ngủ, mơ thấy suối lớn thành sông, thấy chiếc thuyền lá thành chiếc thuyền nan, cứ thế chúng đi vào giấc ngủ say, đưa cái lưng trần cháy nắng cho muỗi đốt.


Hai vợ chồng ngồi nhìn nhau, thở dài, rồi nhìn ra bầu trời rừng đêm, nghe gió lao xao, tiếng lá rụng và tiếng côn trùng nỉ non.


Ông tin rằng mình sẽ sống được.  Núi rừng sẽ không phụ ông đâu.  Cứ chỗ nào có một khoảng đất trống là ông trồng mì, trồng khoai….Ông về dưới chợ cũ mua hạt bí hạt bầu. Chắc chắn sẽ sống được. Không có gì phải âu lo.  Lo là lo cho lũ nhỏ không kiếm đâu ra mấy chữ để biết thế nào là con người.  Chắc ông phải vừa làm bố vừa làm thầy.  Nhìn vai trò thầy giáo lúc này ông cũng buồn.


Ông đã từng chứng kiến lũ học trò đánh Thầy.  Ông cảm thấy bị xúc phạm và đau lòng, cho dù suy cho cùng người thầy giáo bây giờ không còn đứng cái vị trí bao nhiêu năm về trước. Phần đông họ đến lớp không phải vì tương lai của lũ trẻ, họ đi dạy dù chỉ nhận mấy đồng lương chết đói, còn hơn bán mặt cho đất bán lưng cho trời ngoài đồng ruộng, chỉ để được trả cho mấy cân thóc lép không đủ nghiền ra nấu cháo.  Ông biết họ cũng cảm thấy hổ thẹn.  Nhưng họ không làm khác được. Thôi thì dù có buồn cũng đừng trách họ làm chi.


Ông ngồi im lặng nghĩ lan man đủ thứ chuyện.  Ngày mai phải đi chặt mấy cái măng tre rừng mà chiều qua ông đã để ý thấy, đem xuống chợ cũng đổi được mấy chai nước tương. 



Lòng buồn rười rượi nhưng ông vẫn mỉm cười. Chị nhìn ông thấy lạ hỏi:

-        Có gì thích trong bụng mà cười vậy?

Ông không trả lời, chỉ nhìn chị.  Lửa nóng làm mặt chị đỏ ửng lên và đôi mắt long lanh. Chị sà đến bên ông, nắm tay anh đặt lên bầu vú đang căng dưới lớp vải mỏng, rồi kéo ông ngã xuống sàn.  Ông nói nhỏ:

-        Nhè nhẹ, lũ nhóc dậy bây giờ.


                                             * * *


Tưởng chừng cuộc sống cứ thế lặng lẽ trôi, cho dù phải vật lộn với bao nổi gian nan vất vả, sên vắt muỗi rừng, gió chướng mưa ngàn, trầy vi tróc vải mới có được củ khoai củ mì, bụi chuối luống rau.  Cho dù phải đôi khi ngậm ngùi nhìn quảng đời đã qua, bước cuộc đời trước mặt, lại muốn nhảy từ trên vực cao.


Nhưng chết để được gì?  Dĩ nhiên sống cũng chẳng làm gì, nhưng ai mà không hy vọng.  Nuôi chút hy vọng mong manh nhưng vẫn là hy vọng.  Và vẫn còn hy vọng thì cớ gì phải chết!  Cho nên con người sống, sống vì biết bao cái tưởng chừng. Và tưởng chừng đã về với núi rừng hoang vắng để tránh xa cái thế giới mà ông cảm thấy ói mửa, kinh hoàng và lo sợ. Tưởng chừng!


Rồi một hôm ông thấy, không biết từ đâu tới từng nhóm người, cũng nhếch nhác rách rưới như ông ngày nào, cũng gánh gồng nào nồi niêu soong chảo, trẻ có già có, nheo nheo nhóc nhóc, chó gà heo qué lào xào lục xục kéo về dưới khu rừng, chặt tre chặt gỗ dựng lều, mỗi ngày một nhóm mang theo cái ồn ào hổ lốn từ phương nào tới. Lại lọt vào tai ông tiếng chửi thề văng tục, tiếng hát eo éo phát ra suốt ngày từ những chiếc máy transistor họ mang theo. Khu rừng trở nên ồn ả.


Ông nhìn cơ ngơi mình vừa đổ mồ hôi dựng nên, chẳng lẻ lại đi nữa. Tiến sâu vào rừng hay lên tận những rẻo cao.  Ông mong rằng họ, những người không mời mà đến ấy, cũng như ông, không hít nổi cái khí độc của nền văn minh suy đồi, không hít thở nổi cái hơi hám giả dối tanh hôi của cả một hệ thống quyền lực đè lên lớp dân đen chưa kịp thoát ra khỏi các thế lực phong kiến thực dân.


Nhưng ông thất vọng. Họ chẳng có gì giống ông.  Họ bỏ quê hương bản làng vào đây chỉ vì cái bao tử. Họ hàng đoàn lủ lượt ra đi vì đói, vì rách.  Mảnh đất ít ỏi nơi họ ở không đủ nuôi sống họ, không đủ thỏa mãn những nhu cầu càng ngày càng nhiều của một đời sống duy vật chất. Họ không quan tâm tới lịch sử, không màn đến báo chí sách vở. Nhân quyền nhân phẩm không đáng quan tâm. Họ đến đây vì cái bao tử nên họ bỏ lại đằng sau lưng những nhu cầu khác.

Họ tự phương nào tới?
Ông tự phương nào tới?
Vì đâu?
Nhà cửa quê hương bản làng họ thế nào?
Còn ông?
Vì sao lại bỏ đi?
Đất nước này của ai?
Quê hương là chốn nào?
Từ đường hương hỏa còn không?
Ai là người thờ phụng tổ tiên?

Thôi hỏi để làm gì! Trả lời để làm gì! Tất cả chỉ còn là cuộc rượt đuổi, cuộc chạy trốn.  Kẻ thù ta và anh em ta.  Chạy trốn anh em và chạy trốn luôn bản thân mình. Cuộc trốn chạy tưởng chừng không dứt mà con đường trước mặt thì hình như đã nghẽn lối.

Ông đang đi về cái thời khắc giờ thứ hai mươi lăm.


                                          * * *


Những cư dân mới đến đã khuấy động cái yên tĩnh của núi rừng.  Tiếng đốn gỗ chặt tre, cây cối ngã ào ào.  Tiếng người gọi nhau í ới, tiếng trẻ con la khóc ầm ỉ lẫn trong tiếng gà lợn. Khu rừng bỗng chốc trống hoác để lộ một khoảng trời cao mây mù đọng từng khối đục bay nặng nề.

Ông nhìn vào cái khối mây đùng đục nặng nề đó như nhìn vào cái địa ngục tối đen, nơi đó ông từng ngày đêm vật lộn với ma quỷ. Ông nói với chị:

-        Chắc ta phải vào sâu trong rừng nữa mẹ nó ạ. Tôi không thể căng tai ra mà nghe tiếng tru tréo của mấy cái loa phóng thanh và cũng không chịu nổi cái đám người hổn tạp này nữa.

Chị âu sầu nhìn ông:

-        Không đi đâu mà thoát được.  Ông định biến mấy đứa nhỏ thành người rừng cả sao?

-        Thành người rừng thì đã sao nào?


Ông nghĩ, con người sẽ trở về cái thuở nguyên sơ ban đầu, dĩ nhiên là không phải ăn lông ở lổ, nhưng là gần gũi với thiên nhiên, con người sống trong lòng thiên nhiên, không làm vẫn đục bầu trời, không đốt sạch núi rừng, không vét cạn kiệt mầm sống của thiên nhiên. Bởi thế mà từ khi vào đây, dù thiếu thốn trăm bề, ông vẫn dành dụm từng đồng để mua từng cây thông con, cọc cạch chở trên chiếc xe đạp cà tang, ì ạch đẩy lên đồi qua những con đường mòn đất đỏ lầy lội trơn nhẫy.  Mua từng cây.  Trồng từng cây. Chăm bón từng cây. Da ông thì xanh xao vàng vọt.  Da chị thì bạc thếch.  Da mấy đứa nhỏ thì vàng óng. Tóc ông đã lốm đốm bạc.  Chị thường trùm khăn kín đầu vì mấy cọng tóc oan nghiệt cứ trắng dần ra. Nhưng ngọn đồi thì xanh thắm. 



Thông càng xanh thì nỗi lo của ông càng lớn.  Đã lắm phen phải đối mặt với hiểm nguy để bảo vệ đồi thông, sứt đầu vỡ trán, có lần phải nằm cấp cứu.  Một mình ông trồng nhưng có lắm kẻ đến đốn phá.  Và cái biệt danh “lão già điên trồng rừng” đã đến với ông lúc nào không biết. Ngoài vài anh nhà báo ở tận xứ mặt trời mọc đến thăm anh và làm vài cái phóng sự về ông với sự quý trọng ông là một nhà trí thức, một nhà văn, và hơn nữa là thái độ ông trước lịch sử, còn có vài đài truyền hình địa phương đến làm phóng sự tôn vinh ông là một người có công trong việc trồng cây gây rừng!  Họ chả cần quan tâm ông là ai, đơn giản là một lão nông dân trồng rừng, đối với họ, cái tri thức, cái chức năng văn học của ông là đồ bỏ, là mối hiểm nguy.  Nhưng ông chả quan tâm.  Việc ông, ông cứ làm, và ông viết rất hăng say.  Có điều, tất cả những gì ông viết ra cho hết vào một cái ba lô nhà binh, đi đâu cũng mang theo, bất khả ly thân.  Chẳng ai đọc được. Không phổ biến ở bất cứ đâu. Không biết trước khi từ giã cõi đời này, ông có cho công bố những tác phẩm của ông không.


                                            * * *


Thôi thì ở không được, phải đi.  Trời sinh ông ra ban cho ông cái tính khó hòa nhập với thế giới mà ông cảm thấy xa lạ lạc loài, thậm chí ông còn cảm thấy cái thế giới đó quá cay độc. Ông không chấp nhận, và cũng chẳng được chấp nhận.


Một buổi sớm, sương còn nặng hạt, khí đã lạnh buốt da, ánh sáng vẫn xóa được cái âm u của núi rừng. Một mo cơm độn, một bi đông nước, một cái rựa, ông vào rừng, quyết tâm đi tìm một mảnh đất dung thân, chạy trốn cái thế giới đã đuổi mãi sau lưng ông, chạy trốn cái không khí nồng nặc của thời đại, chạy trốn lòng thù hận mù quáng và tình yêu giả tạo… Ôi không biết bao cái, theo ông, không chịu đựng nổi, đang từng giây từng phút làm ung vữa trí óc.

Co ro trong manh áo không đủ ấm, chị đứng nhìn theo bóng ông nghiêng ngả trong sương lạnh. Chị nói vói theo cái bóng ông đã dần khuất dưới bóng rừng:

-        Ông đi cẩn thận, nhớ về sớm, đừng để tối quá lạc trong núi.

Hình như ông cũng không nghe.  Chị lâm râm cầu nguyện.

Tiếng gà rừng lẻ loi đâu đó vẳng tới, tiếng chó sủa vu vơ nơi xóm những người mới đến. Người đàn bà một thời hương sắc chợt thấy lòng mang mang một nỗi hoài nhớ xa xôi. 



Chị nhớ đến ngôi biệt thự nho nhỏ xinh xắn nằm dưới những tàng cây im bóng trong khuôn viên trường Nông Lâm Súc ở một thị trấn cao nguyên bốn mùa xanh thắm, những triền hoa dã quỳ vàng tận những dòng suối trong vắt. Chị, người con gái bấy giờ, như một đóa hồng rực lửa giữa một thảm hoa vàng và tình yêu như ánh mặt trời hừng hực thiêu đốt da thịt làm bật ra những âm thanh vừa rộn rã vừa lắng buồn.


Cơn mơ màng chợt tắt khi mấy đứa nhỏ thức dậy gọi mẹ.  Chị trở vào lều và tới bếp đun thêm mấy que củi, chuẩn bị bữa ăn sáng cho con.


Bên xóm xa, đã nghe tiếng người gọi nhau í ới, tiếng máy hát khẹt khè và tiếng loa phóng thanh thông báo quyết định thành lập đơn vị hành chánh mới, chưa có tên chính xác, cứ tạm gọi là Xóm Mới.  Chị thở dài đánh thượt một cái:


-        Không biết rồi có yên ổn không.


Cũng chẳng hiểu cái nghĩa “yên ổn” của chị là sao nhưng rõ ràng là chị nghĩ thế nào cũng có một cuộc bỏ chạy nữa, bởi chị biết quá rõ tính khí của chồng.  Đôi lúc chị nghĩ thôi thì cứ sống đại chỗ nào cũng được, cứ che mắt bịt tai mà sống.  Cuộc đời ngắn ngủi quá mà cứ chạy mãi thế này thì làm sao gầy dựng được chút gì cho lũ nhỏ. Thằng Tí Anh mười tuổi rồi mà lỏm bỏm không hết hai mươi bốn chữ cái, còn Tí Em thì suốt ngày chỉ đọc được mỗi chữ “đờ-đờ-i-đi”.  Chắc chắn nó chẳng có ý niệm gì về việc đi hay ở, nhưng với chị, chỉ mỗi cái chữ “đi” mà thằng nhỏ bập bẹ suốt ngày đó như một điềm báo chẳng khi nào dừng chân được.


Ba mẹ con đang ngồi nhai mấy củ khoai thì một người đàn ông lạ xuất hiện đột ngột như một bóng ma ngay tấm liếp che mưa tạt trước lều. Không đợi mời, hắn bước xộc vào nhà, hắn hỏi:

-        Ông già người rừng đâu rồi?

Chị ngơ ngác (?)

-        Ông chồng chị đó, đâu rồi?

-        Ừ, ổng vào núi rồi.  Nhưng anh hỏi ổng có chuyện gì không?

Hắn chìa ra trước mặt chị một tờ giấy lắm lem bùn đất và ướt nước mưa:

-        Đây, có tấm giấy gọi ổng, mai 8 giờ về dưới xã trình diện.

Không biết lành dữ ra sao, chị nghe mấy từ “có giấy gọi” là chị đã run rẩy tay chân rồi, bởi sống trong cái thời buổi mà muôn vàn đố kỵ, hoài nghi bao phủ như mây đen xuống từng số phận con người ở xứ sở này, khiến ai cũng thấp thỏm lo âu không biết giờ nào bất chợt tai ương ập đến.


Hắn đưa mảnh giấy cho chị rồi quày quả bước ra cũng nhanh như khi hắn bước vào, thoáng cái hắn đã khuất xa nơi lối mòn cây cối rậm rạp.


Chị cầm mảnh giấy trên tay thẩn thờ nhìn hai đứa con đang ngồi im lặng bên rổ khoai luộc.


                                          * * *



Mặt trời chưa khuất núi mà bóng rừng đã âm u như thể chút ánh sáng vàng vọt sau cùng của mặt trời không đủ sức giằng co với bóng chiều đang phủ xuống. Cảnh vật trở nên thê lương vì cái lạnh buốt của núi rừng.

Cả ngày cứ vào ra thơ thẩn với tấm giấy chị cẩn thận nhét vào lưng quần, chị có cảm tưởng như mình đang mang cái tai họa mà chẳng dám vứt bỏ nó đi.  Phần thì cứ nao nao lo cho ông, không biết ông đi những đâu mà giờ này chẳng thấy tăm hơi.


Chị hết đứng lại ngồi, mắt dán chặt vào con đường mòn dẫn vào rừng sâu, gió lay động cành cây xa xa cũng làm chị thót người chồm về phía trước, tiếng động rất nhẹ của những cành cây khô bị gãy cũng làm chị tưởng bước chân ông.


Nhưng màn đêm cứ dần dần buông xuống, nhẹ nhàng, thầm lặng và u uất như chẳng để cho bất cứ ai, bất cứ hiện tượng gì, bất cứ quyền phép gì có thể xua đuổi được bóng tối, như thể bây giờ và mãi mãi nghìn sau, đêm tối sẽ chế ngự thế gian này.


Và cái đêm tối đó, không phải cho đến giờ phút này, mà đã từ bao năm nay đã vây chụp xuống đời ông rồi.


Đêm cứ dằng dặc trôi qua, lòng chị nặng nề chùng xuống như chìm lắng tận đáy cơn giông bão.  Chị không tin đấng thiêng liêng nào có thể ban ơn lành, nhưng chị cứ lâm râm cầu nguyện rồi chìm vào giấc mê mộng mị.  Chị thấy ông thất thểu trở về máu me đầy người, máu chảy xuống từng dòng trên lối ông đi, chị ôm choàng lấy ông và những giọt máu sau cùng trong ông lấp đầy hai hốc mắt chị làm chị ú ớ thét vang và bừng tỉnh rã rượi.


Bên ngoài vẫn một màu đen của đêm thâu.


                                           * * *


Sáng hôm sau ông vẫn chưa trở về.  Chị bắt đầu nghĩ tới những tai ương đổ xuống đời ông sẽ kéo theo những hoạn nạn đời chị, đời hai đứa nhỏ.  Chị nhớ đến cơn mộng dữ đêm qua. Chắc chắn đó là một điềm báo chẳng lành. Nhìn hai đứa con ôm nhau ngủ say, không nén được nỗi đau ùa đến xé lòng, hai dòng nước mắt chị ứa ra quặn thắt.  Tưởng cứ lâm râm cầu nguyện là ông sẽ trở về, cho dù trở về thương tích đầy mình, nhưng còn được trở về là may mắn lắm rồi.


Nhưng lời cầu nguyện có lẽ chưa được chấp nhận, vì cho đến giờ này, quá nửa ngày trôi qua rồi mà trời đất thì đang đe dọa một cơn giông bão sắp tới.  Chỉ mới quá trưa mà trời đã tối sầm lại, mây đen nặng như chì phủ thấp xuống khu rừng, gió bắt đầu dập từng hồi, cây cối ngả nghiêng, mái lều bị giật từng cơn run rẫy,  Trời ầm ầm giông, sấm chớp xẹt lửa ngang dọc.  Chị hét hai đứa nhỏ:

-        Ngồi im trên giường, đừng có mà chạy lung tung.


Hai đứa nhỏ chẳng nghe được mẹ nói gì, nhưng mặt mày đứa nào cũng tái xanh, ngồi ôm nhau co ro một góc giường.


Hình như gió không phải từ một hướng, những luồn gió giao nhau giận dữ tạo nên những vòng xoáy sát mặt đất rồi bốc cao lên, cây cối hay bất cứ cái gì nằm trong tâm xoáy đó đều bị nhổ tung, bốc lên cao rồi đổ nhào xuống.  Căn lều như nhờ một phép lạ dẫu đu đưa lắt lư nhưng chưa bị nhổ đi.  Cả một đồi thông nằm chổng chơ nghiêng ngả trông thảm hại.


Rồi nước từ trời cao ào ào đổ xuống, không thể gọi đó là cơn mưa, đó là thác nước từ trời, nước từ một cái biển bao la treo trên cao tràn xuống, không biết cơ man đâu là nước.  Nước chảy thành suối, nước chảy thành sông, không thấy đâu là bờ bến. Và bây giờ là biển nước mênh mông đục ngầu dập duềnh cây gỗ rác rều… Nước tràn vào lều.  Nước dâng ngập giường, mùng mền, áo quần, nồi niêu nổi bập bềnh.  Chị một tay bồng thằng Tí Em, trên lưng cõng thằng Tí Anh, đứng trên giường.  Nước vẫn dâng lên dù cơn mưa hình như có giảm.  Nước vẫn ầm ầm đổ về.  Càng lúc càng dữ dội.  Nhấn chìm tất cả.


Hình như không còn khóc được, chị ngước mắt nhìn lên cao.  Có gì ở trên cao đó không?


Đột nhiên cả một bờ núi đổ nhào xuống, đất đá cây cối đổ nhào theo với đà sụt lở dữ dội, trong chốc lát, hình như căn lều đã biến mất, và cả cái Xóm Mới cũng vùi sâu dưới lớp đất đá. Và dĩ nhiên chỉ còn trông thấy một vài cành thông cố vươn lên hụt hẩng giữa cái hoang tàn ghê rợn của cuộc tàn phá kinh hoàng.


                                        * * *


Có lẽ, nếu người đàn ông đã chết trong rừng thì mãi mãi muôn đời sau không ai biết dưới khu rừng này đã từng có một cái xóm mang tên Xóm Mới.


Ông thất lạc trong rừng hai ngày, ăn lá cây, uống nước suối đục ngầu, đêm co ro trong hốc đá.  Hai ngày trôi qua với cơn bão quét kinh hoàng, ông tưởng mình sẽ chết.  Tuy nhiên ông vẫn hy vọng vợ con bình yên.


Ngày hôm sau trở về, không tin mình đúng hướng, không tin mình về đúng cái nơi mình vừa từ đó ra đi cách mới có hai ngày.  Vừa ra khỏi núi, một quang cảnh lạ lùng trước mặt, cả một vùng đất đá và nước đỏ ngầu mênh mông, chẳng còn nhận ra chỗ nào.  Oái oăm thay, ông không thấy ghê rợn trước sức tàn phá hủy diệt của đất trời mà ông thấy trước mặt mình một cảnh rực ngời hùng tráng của cái chết.


Chẳng còn nhận ra chỗ nào.
Ông nghĩ mình đã nhầm.
Ông mong mình đã nhầm.
Nhưng ông đâu có nhầm, phải không?
À, thì ra ông trời cũng không để cho ông còn một chốn để dung thân.


VN, 1980
Lê Nam Phương (thi sĩ Lê Văn Trung)





Bóng Tối Của Quá Khứ - Lê Nam Phương tức thi sĩ Lê Văn Trung

Bóng Tối Của Quá Khứ

               Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)



Đường phố chìm trong màn đêm lạnh lẽo.  Tiếng gió hú trên ngọn các cây long não nghe như tiếng khóc của một người đàn bà.  Những cành cây chìa xuống ngang đầu lung lay như những cánh tay dài ngoằn và lông lá, chập chờn như muốn bấu vào một người đang đi về hướng nhà thờ.  Chiếc cầu ngắn vắt ngang qua dòng sông nhỏ nặng nề không muốn chảy, không nối được lời bình an của Chúa qua đôi bờ.
Đêm tối đen đặc.

“Mình phải qua được cầu, người đàn ông nghĩ, phải can đảm lên”.  Nhưng ông chợt nghe âm vang trầm buồn của tiếng nói từ một gốc cây long não bên đường:

“Mày sẽ không vượt nổi chiếc cầu này để qua bên kia đâu, hỡi con chiên lạc lõng cuối cùng của Chúa”.

Ông thấy lạnh buốt trong đầu và máu trong tim đông cứng lại.

“Ông là ai? Ông vừa nói gì?”

Không ai cả.  Chẳng ai trả lời ông.  Đây là ảo giác trong cơn mộng du dai dẳng hay là cõi địa ngục của một trần gian không có thực?

Tiếng nói lại buồn buồn vọng tới:
“Sẽ không bao giờ, mày biết không, sẽ không bao giờ mày vượt qua khỏi chiếc cầu này, ôi tội nghiệp mày, đứa con lạc lỏng của đức tin”.
Người đàn ông nhìn quanh, nhưng bóng tối đậm và lạnh khiến ông không nhìn thấy gì.  Ông biết chỉ bước vài mươi bước nữa là đến cầu nhưng sao ông thấy mình đi mãi mà con đường cứ dài ra như thể ảo giác trên sa mạc.  Kề bên đầu cầu, về mé trái là một lô cốt bê tông hình như có từ thời Pháp còn chiếm đóng trước 1954, dọc theo sông, cũng về mé trái, đối diện với bờ bên kia, là nơi ở của bà từ Cung.  

Vương triều nhà Nguyễn chỉ còn là cái bóng của quá khứ.  Im lặng.  Lãng quên.  Bội ân bội nghĩa.  Chẳng còn ai nhớ.  Và nhớ hay quên cũng thế thôi.  Chẳng để làm gì.  Lịch sử liên tục đổ xuống đất đá gạch vụn của hận thù, che chắn quá khứ, cản lối tương lai, chỉ còn cái hiện tại què quặt đui mù.

“Mày nghĩ gì?  Này thằng người lạc lối kia!  Mày tưởng mày đang trên đường đến đồi Golgota?  Để làm gì?  Jésus cũng không làm được gì.  Hiện tại này!  Hiện tại này đây!”

Ông bất lực, ngồi xuống bên vệ đường ẩm ướt.  Bên kia sông, ngôi nhà thờ như một khối mù sương đen thẫm.

“Người là ai?”

“Ta là bóng tối.  Bóng tối của quá khứ.  Quá khứ của những điều tồi tệ hung bạo.  Ta là bóng tối.  Bóng tối của máu.  Máu của ảo tưởng về tự do và nô lệ.  Ta là bóng tối.  Bóng tối của tình yêu và thù hận.  Tình yêu bị đánh cắp và thù hận được vinh danh”.

Thôi rồi, người đàn ông nghĩ và nhớ, chỗ này đây, ngay chỗ lô cốt cạnh đầu cầu Hải bị bắn vỡ sọ mắt trợn trừng nhìn cây thánh giá trên đỉnh nhà thờ, cả tiểu đội không còn ai.  Ông không hiểu nhờ đâu mình còn sống, lành lặn, không trầy trụa, nằm trên vũng máu cạnh những xác người.

Tại sao ông lại lần mò về đây trong bóng tối lạnh lẽo này?

“Mày đi tìm tiếng nói của bóng tối.  Bóng tối của quá khứ. Quá khứ của những ngụy anh hùng, ngụy vĩ nhân.  Quá khứ của sự man rợ cuồng tín và ngụy tín”.
Tiếng nói yêu ma vọng từ cõi âm ty nào cứ vo vo trong đầu ông, hay là có ai đó, ở quanh đây, hay là ông, một ông khác ở trong ông.  Ông đưa tay dụi mắt, căng con ngươi ra nhìn vào bóng tối.  Chẳng thấy gì.  Ông nhặt một cục đá, ném về phía trước, chỉ nghe một tiếng “cạch” khô khốc vọng lại.

“Tôi không đi tìm bóng tối của quá khứ, tôi đi tìm tôi trong quá khứ, nhưng quá khứ dày đặc bóng tối”.

“Và trong bóng tối dày đặc của quá khứ đó, có mày, có Nguyệt và cái sọ vỡ của Hải”.

Nguyệt là nỗi ám ảnh đau thương của tình yêu và Hải là nổi ám ảnh kinh hoàng của thù hận.
“Tôi phải đi, tôi phải vượt qua cây cầu này”.

Dòng sông đục ngầu ở dưới và bầu trời xám xịt trên kia.  Trần gian, địa ngục, thiên đàng có gì khác nhau không?  Trời ơi làm sao vượt qua khỏi bóng tối của quá khứ!

***

Có những khoảng cách không thể đo bằng năm tháng, không thể tính bằng khái niệm thời gian mà nó được cảm nhận bằng nỗi hoài nhớ ray rức khôn nguôi.  Hôm qua!  Có thể không là hôm qua.  Có thể không là những năm tháng đã qua.  Có thể không là trăm năm đã qua.  Nó là cái gì ở trong hồn ta chập chờn tan hợp như bóng mây.  Nó là cái gì ở trong máu ta chảy buốt qua từng mạch li ti xuôi ngược không cùng.  Nó là cuộc đuổi bắt vô vọng và triền miên.  Nhưng cái kết cuộc là ở đâu khi ông ngồi ở đây, bên vệ đường, dưới gốc những cây long não, đêm tối âm u và lạnh lẽo.

Và phía trước là chiếc cầu nhỏ, bắc qua một dòng sông nhỏ đục ngầu, chỉ cần vài mươi bước là qua khỏi chiếc cầu đi về hướng nhà thờ.  Thế mà ông đi mãi với với con đường hình như dài ra vô tận, vo vo tiếng nói của bóng tối, bóng tối của quá khứ đặc quánh như vũng máu khô đọng lại trong lô cốt với cái sọ của Hải vỡ ra mà đôi mắt vẫn trừng trừng nhìn về cây thánh giá trên tháp nhà thờ.  Và trong lớp bóng tối đó có đôi mắt của Nguyệt nhìn ông.  Đôi mắt sầu não về một tình yêu bi thương trong những mạch đời bất trắc và oan nghiệt.  Cuộc kiếm tìm như một rượt đuổi về phía hư vô.

Saigon cuối những năm 60.
Núi đồi Bảo Lộc.

Sân ga quạnh vắng bên kia bờ hồ và phi trường Liên Khương mù sương.

Ngày trở lại Cần Thơ và nỗi tuyệt vọng chán chường.
Phải không hỡi Nguyệt!
Phải không hỡi Hải!
Phải không hỡi bóng tối của quá khứ!

“Lại mày nữa rồi, kẻ chối bỏ thiên đường, kẻ khinh mạn trước địa ngục, kẻ cô độc cõi trần gian.  Lại mày, phải không?  Tìm gì ở quá khứ?  Ở trong bóng tối của quá khứ”.  Sống là một cuộc kiếm tìm thiên thu.

“Đừng ruồng bỏ tôi, đừng ruồng bỏ tôi”.

Ông lại nói với cái bóng tối của đêm đen.

Không đứng dậy nổi.  Ông bò lê như con thú bị thương về hướng cầu.  Đêm đầy hăm dọa rình chờ. Ánh sáng một trái hỏa châu leo lắt trên bầu trời đen như một vì sao hấp hối.  Có tiếng nổ lạc loài đâu phía đồi Thiên An, ông không phân biệt được tiếng súng hay tiếng nổ gì, vì âm vang của nó lạnh lùng và nổi buốt giá chảy trong đầu ông.  Chỉ một tiếng nổ và cái sọ của Hải vỡ ra.  Sau đó là những lưỡi lê sáng lạnh ghim thật ngọt vào từng trái tim.  Máu từng vòi bắn vòng cung qua người ông.  Cả tiểu đội không còn ai.  Ông nằm trên vũng máu và nghĩ mình đã chết.  Đôi mắt Hải trợn trừng.  Ông nhớ tới Nguyệt và một nỗi êm đềm chua xót dìm ông vào cơn hôn mê sợ hãi và lặng căm.  Rồi ông thấy mình ngồi trên ghế đá ở bến Ninh Kiều, còn Nguyệt thì đang xé vụn một mẫu giấy thả xuống dòng sông. Tình yêu đôi khi chỉ là khoảng khắc ngưng chảy của một dòng sông, nhưng rồi tích tắc, dòng nước lại trôi xuôi cuốn theo bao nhiêu khát vọng dồn ứ suốt tuổi thanh xuân.
“Mày lại nhớ đến cái quá khứ của một khoảnh khắc, hỡi con người yếu đuối bé nhỏ tội nghiệp.  Hay là không có gì cho mày hôm nay và ngày mai?”

Ánh sáng hỏa châu hấp hối tóe lên rồi vụt tắt.  Trong cái chớp mắt lóe lên đó, ông thấy một vật thể đen ngòm cũng bò lê dè dặt về hướng cầu.  Ý thức mòn mõi của một người lính trong ông gượng dây.  Ông lặng im dừng lại, nín thở, căng mắt nhìn vào bóng tối, lắng nghe.  Đằng kia trườn đi không một tiếng động.  Chỉ có tiếng gió hú trên đầu các cây long não và tiếng dế chìm khuất dưới sương lạnh.
“Không có gì cho tôi hôm nay và ngày mai chăng?  Tôi chỉ còn khoảnh khắc của quá khứ nhỏ nhoi và đầy bóng tối sao?”

Ông nhớ Hải hãy còn quá trẻ, hình như chưa có ý niệm gì về chiến tranh, không một chút ý nghĩ về một kẻ thù, chưa bao giờ nhận cụ thể mình phải bắn vào ai, vào một sinh vật nào.  Anh cầm súng như một món đồ chơi và khi ngồi gát bên lô cốt.  Hải cũng nghĩ mình đang tham dự một trò chơi của thời niên thiếu.  Và kẻ nào đó bắn vỡ sọ anh có bao giờ đớn đau vì mình đã hủy diệt mạng sống một con người vô tội?

Ông cũng nhớ về Nguyệt, nàng quá trẻ như một mảnh trăng non dõi theo đời ông chênh vênh lẻ loi bên trời.  Ông đến và đi không hẹn không hò và nàng thì lặng lẽ cam đành.  Ngày xa nhau dài vô tận.  Đường xa nhau đầy ứ tai ương.  Viên đạn sau cùng ông dành cho mình vẫn còn nguyên.  Không có ngày về.  Chắc chắn không có ngày về.  Nhưng không thể vì thế mà có thể kê súng vào đầu bất cứ lúc nào, bởi vì, ông không thể rũ bỏ cái quá khứ đáng rũ bỏ, không thể lãng quên cái quá khứ đáng lãng quên.  Ông phải tận mắt nhìn thấy lại rõ ràng kẻ bắn vỡ sọ Hải.  Để làm gì.  Cũng chẳng để làm gì.  Ông không phải là kẻ trả thù xương máu.  Chỉ nhìn cho rõ, thế thôi, để không còn ảo tưởng về cái quá khứ được thần thánh hóa.  Ông muốn tìm trong bóng tối quá khứ đó, có ông, như một nhân chứng cho lương tri con người.

“Này con người bé nhỏ tội nghiệp kia, mày không qua nổi chiếc cầu, phải không?  Chúa ở bên kia.  Không có một cánh tay nào của Chúa giơ ra để dẫn mày qua khỏi chiếc cầu”.
Cái bóng đen đằng kia vẫn đang di động thận trọng, rất nhẹ, như chẳng hề di chuyển chút nào.

Ánh hỏa châu lại lóe lên trên bầu trời đêm.  Bóng đen như một khối đá bất động.

Ông cũng nằm lặng yên, áp người sát mặt đường.  Nghe ngóng.  Hồi hộp.  Chờ đợi.  Ông nghĩ, nó đấy, nó là một vệt bẩn trong bóng đêm của quá khứ.  Nó bỏ về đây làm gì trong cái đêm vắng lạnh của thành phố rêu phong hàng thế kỷ hứng chịu bao vùi dập của lịch sử.  Nó về đây để tìm lại quá khứ đổ nát mà nó đã có lần ra tay đập phá, hay nó về đây để tìm lại cảm giác lạnh buốt từ chiếc lưỡi lê trong tay nó đâm suốt trái tim của đồng loại và ngây ngất nhìn vòng máu đỏ bắn vòng cung qua những thây người.  Nó về đây để xác định lần nữa nó đã nhúng tay vào tấn bi kịch của lịch sử để khẳng định bạo lực sẽ thống trị được con người.

Hỡi ơi, những tên ngụy anh hùng, ngụy vĩ nhân, đui mù trong ngụy tín.  Nó mò về đây để tiếp tục tạo ra một thứ bóng tối của quá khứ.

“Mày đang nghĩ gì hỡi con người bé nhỏ tội nghiệp kia.  Đừng mang lòng thù hận.  Có thể chiếc cầu là điểm nối đôi bờ, nhưng có thể lời bình an của Chúa không thể nối được đôi bờ, nhưng không vì thế mà chúng ta hủy diệt nhau.  Hãy để cho chiếc cầu là chiếc cầu, một ngày kia tình yêu sẽ đi qua trên cầu này, một ngày kia thù hận sẽ trôi dưới cầu này”.

Ông phải làm gì bây giờ. Từng milimet một ông vẫn trườn tới, và đằng kia, chắc cái bóng đen đó cũng đang trườn tới. Nó có thấy ông không, ông không biết, nhưng chắc chắn ông có thấy nó.  Ý thức mỏi mệt của một người lính mách bảo ông thế. Ông và nó là hai cái bóng tối quá khứ, nhưng ông biết ông không phải là nó, nó không phải là ông.
Viên đạn sau cùng vẫn còn nằm nguyên trong ổ đạn và khối thép lạnh băng của khẩu Colt 12 vẫn ép sát vào ngực ông như lời nhắc nhở lạnh lùng về một cái chết tất yếu sau cùng của định mệnh.  Nhưng, ông nghĩ, chưa phải bây giờ, càng không biết bao giờ, đôi khi giờ phút đó sẽ đến trong mầu nhiệm đớn đau của số phận.

Ông không chờ đợi, cũng không sợ hãi.

Và hình như Nguyệt cũng không chờ đợi ngày về của ông.  Có thể nàng cũng còn ở đâu đó trong cõi phiền muộn của mình.  Nhưng nàng không chờ đợi.  Có những chiếc cầu đã gãy và không bao giờ nối lại đôi bờ, những chiếc cầu đã gãy vì bom đạn hay vì một chia cắt trong một thứ gọi là ý thức hệ mê muội và che đậy.  Không bao giờ nối lại.  Không thể. Giọt máu chia cắt đã thấm sâu vào những cái đầu cuồng ngông đặc sệt thứ bùn nhão của học thuyết trong quá khứ tạo ra một thứ bóng tối u uất nặng nề.

Ông không tự đặt cho mình một sứ mạng gì.  Ông len lỏi vào cái quá khứ tối đen đó, để nhìn cho rõ kẻ đối diện là ai và ông là ai như một khát vọng chứng giải nỗi đau thương phi lý phủ chụp lên thân phận con người.

“Này người anh em, giọng nói có vẻ nhẹ nhàng hơn, người anh  em đã thấy ra rồi đấy, nhưng không phải chỉ thấy ra rồi chấp nhận hay phẩn nộ.  Thấy ra là để mở một con đường mới, là để đôi bờ nối lại nhau, là để tình yêu đi qua trên cầu, và hận thù trôi phía dưới như bèo bọt rác rến.  Nhưng người anh em có qua được chiếc cầu không?  Ta tin rằng mày, giọng nói lại thay đổi nặng nề, mày sẽ không vượt nổi cây cầu, hỡi đứa con lạc loài của đức tin”.

 Bóng đen hình như di chuyển nhanh hơn, vẫn thận trọng và im lặng.  Hắn là ai?  Mục đích hắn là gì khi hắn trở về đây trong đêm tối dày đặc này?  Mục tiêu của hắn là đâu?  Chiếc cầu?  Nhà thờ?  Hay biệt thự LT?  Hay hắn trở về để tìm kiếm cái đã bị đánh cắp, bị lừa dối?  Hắn trở về để nhận ra cái ảo tưởng về sự giải phóng con người bằng bom đạn?  Hắn trở về để biết rằng bạo lực không là quyền năng giải quyết được những mâu thuẩn?  Hắn trở về để nhận rõ lại bàn tay vấy máu của mình chỉ là chứng tích của một sự điên rồ ngây ngô của tuổi trẻ?  Hắn trở về để vượt qua cây cầu trước nhà thờ, quỳ dưới bậc đá bên tượng Chúa để sám hối ăn năn, để xin được tha tội, cầu xin cánh cửa thiên đường mở ra cho hắn bước vào?

Có phải hắn trở về trong cái đêm đầy hăm dọa và hiểm nguy này vì những điều như ông nghĩ không?  Hay hắn vẫn còn trong cơn mông muội chưa thoát ra được những vây khốn của học thuyết?
Cái bóng đen vụt đột ngột lao về phía cầu.  Nhanh như chớp, bằng một sức mạnh bản năng, từ một mô đá đầu cầu, ông phóng người lên, hai cái bóng đen ngả nhào trên mặt cầu, hắn cố vùng vẫy để thoát ra hai vòng tay cứng như hai gọng kềm đang ôm siết lấy hắn.  Hắn vụt rút tay ra được.  Ánh thép phản chiếu ánh sáng leo lắt của những vì sao đêm loáng qua mắt ông, cảm giác đau buốt như một dòng điện cực mạnh xuyên suốt qua người.  Hắn vùng đạp ông thật mạnh, tay nắm chặt cán dao, theo đà lao tới của hắn, lưỡi dao được rút phựt ra;  Hắn lảo đảo đứng lên định chạy ra giữa cầu, nhưng ông đã lại vùng dậy quật ngả hắn xuống.  Một vật gì đó trong người hắn văng ra.  Cảm giác bén nhạy của một người lính từng trải, ông biết vật đó là gì.  Ông buông hắn ra, chụp lấy khối thuốc nổ, dùng hết sức lực còn lại, chạy bay ra giữa cầu, vận dụng tối đa kỷ năng của một người ném tạ, ông dùng tay phải ném tung khối thuốc nổ về phía hạ lưu dòng sông, càng xa càng tốt.  Cùng lúc đó, với sự hung dữ của một con thú, với dao găm trên tay, hắn lao vào người ông.  Nhưng tác động phản hồi của lực ném khối thuốc nổ đã khiến ông ngã bật về phía sau, hắn lao tới mất đà, nhào lộn một vòng và vụt rơi xuống.  Cùng lúc đó, một tiếng nổ long trời bùng lên, hình như nước bắn lên rất cao, rơi trên mặt cầu, thấm ướt người ông.  Chiếc cầu hình như cũng rùng mình vì tiếng nổ và ông có cảm giác đu đưa nhẹ như nằm trên võng.

Ông đứng lên, với cánh tay trái còn chảy máu và cánh tay phải đau buốt vì té xuống nền cầu, ông nhìn xuống dòng nước đen ngòm bóng đêm, hình như dòng nước vẫn im lìm chảy nặng nề như thể trước đó chưa có gì xáo động nỗi thầm lặng muôn đời của nó.

Ông bước trên cầu, hướng về phía nhà thờ.

Chuông lễ Misa gióng giả vang lên.

Lê Nam Phương (Lê Văn Trung)

No comments:

Post a Comment

Đường cũ người xưa

  Đường Cũ Người Xưa Con đường cũ còn nguyên từng phiến đá Hàng cây xưa vẫn xanh biếc lá giao mùa Nhưng rồi có một người không trở lại Vẫn m...