Monday, September 11, 2023

MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ THƠ CHO CÕI IM LẶNG CỦA NHÀ THƠ LÊ VĂN TRUNG - LÊ VĂN CHUNG

  MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ THƠ CHO CÕI IM LẶNG CỦA NHÀ THƠ LÊ VĂN TRUNG

 
Đọc hai tập thơ của nhà thơ Lê Văn Trung là DẠ KHÚC & THU HOANG ĐƯỜNG, tôi có cảm tưởng rằng: Dường như hầu hết các bài thơ của thi nhân là thơ về một cõi IM LẶNG nào đó. Tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG, gồm có 93 bài thơ, đã được chính tác giả giới thiệu ngay từ trang sách đầu tiên là TRÍCH THƠ CỦA NGÓI, nghĩa là cả tập thơ gồm 93 bài thơ đó đều là thơ của ngói. Sang đến tập thơ DẠ KHÚC, thì mặc dù chỉ có ba bài thơ ẢO ẢNH CUỘC ĐỜI / TÌNH XANH / NGỒI LẠI CÙNG TÔI / TRĂM MÙA THU YÊU EM, là được tác giả ghi rõ là thơ dành cho cõi im lặng, và một bài thơ duy nhất là bài thơ THAO THIẾT MÙI HƯƠNG – Bài thơ thứ 41 trong tập thơ, là được tác giả ghi là trích thơ của ngói – cũng là thơ dành cho cõi im lặng. Còn lại, 144 bài thơ trong tập thơ cũng đều là thơ cho cõi im lặng (chỉ là không ghi mà thôi), khiến cho những người đọc qua loa đại khái, thì họ nghĩ rằng thơ của LVT, chỉ là những giấc mơ của thi nhân mà thôi.
Sẽ là một sự cống hiến vĩ đại cho thơ ca, nếu bạn tìm thấy một người cũng giống như Lê Văn Trung, thay vì mô tả những giấc mơ của một người chạy trốn khỏi những nanh vuốt của một xã hội CS, ông đã mô tả, phân tích giấc mơ của một con người không chỉ khỏe mạnh về mặt tâm lý mà ông còn là một nhà thơ tràn đầy sức sáng tạo. Khi đó, bạn sẽ cảm nhận được mọi giấc mơ của LVT, không phải là sự ức chế mà là sản phẩm của một Ý THỨC SÁNG TẠO. Giấc mơ của ông không hề bệnh hoạn, ngược lại chúng còn thật sự lành mạnh. Mỗi bài thơ của ông đã cho chúng ta thấy rằng: Toàn bộ sự tiến hoá và ý thức của con người đều phụ thuộc vào những sự mộng mơ kiểu như thế của LVT.

Có hai loại im lặng. Một là: IM LẶNG CỦA TÂM TRÍ, đa số mọi người chúng ta hoặc là bám lấy lời, lấy chữ, hoặc bằng cách nào đó chúng ta bỏ lời, chữ, thì chúng ta lại bắt đầu bám lấy cái đối lập của lời, chữ, mà chúng ta gọi đó là sự im lặng. Nhưng chân lý không ở trong lời, và cũng không ở trong sự im lặng kiểu đó. Chân lý là siêu việt, chân lý là siêu việt trên nhị nguyên. Im lặng như trên là một phần của trò chơi nhị nguyên của tâm trí. Tâm trí không chỉ là lời mà nó còn có cả sự im lặng. Giữa hai lời có một kẽ hở nhỏ nơi tâm trí im lặng. Tâm trí là cả hai – Lời và im lặng đan chéo. Từng lời được theo sau bởi im lặng, và từng im lặng được theo sau bởi lời.
Khi bạn suy nghĩ, một ý nghĩ tới, thế rồi kẽ hở tới, nếu không có kẽ hở thì ý nghĩ này sẽ chờm lên ý nghĩ khác, và sẽ có một sự lẫn lộn rất lớn, vì vậy mà kẽ hở được cần đến để cho các ý nghĩ của con người không bị lộn xộn. Thế rồi ý nghĩ khác lại sẽ tới. Nó cũng giống như khi bạn đứng trên đường quan sát giao thông. Xe này đi qua, thế rồi kẽ hở đi qua! Bạn thường không để ý đến những kẽ hở đó. Xe này đi qua, thế rồi kẽ hở cũng đi qua, và thế rồi xe khác cũng đi qua. Nếu không có kẽ hở, sẽ có va chạm giữa hai xe, sẽ có tai nạn. Kẽ hở bao giờ cũng có đó. Kẽ hở là một phần của giao thông cũng như các xe đang giao thông. Đích xác cùng điều này là hoàn cảnh với tâm trí. LỜI, tiếng ồn, và cái gọi là IM LẶNG, đều là hai phần của TÂM TRÍ.

Nhưng, có một loại im lặng khác không liên quan gì tới tâm trí. Sự im lặng đó không phải là sự thiếu vắng của những tiếng ồn, nó chính là sự hiện diện của cái, mà lý trí của con người không thể biết được – Nó có một phẩm chất khác toàn bộ: KHÔNG PHẢI LÀ THIẾU VẮNG TIẾNG ỒN, nhưng nó là sự hiện diện của TRÁI TIM, sự hiện diện của cái TOÀN THỂ của thực tại, sự hiện diện của Thượng đế. IM LẶNG đó không phải là sự im lặng của cái chết, của nghĩa trang; trái lại im lặng đó là rất sống động, rất rung động, đầy niềm vui, trút phúc lạc ra khắp xung quanh, tràn ngập với tình yêu thương của con người.

Cõi im lặng của thơ LÊ VĂN TRUNG, không phải là cõi im lặng thứ nhất, mà nó chính là cõi im lặng của loại thứ hai nói trên. IM LẶNG có điệu vũ trong nó, im lặng giống như một bài ca nhiều hơn im lặng của nghĩa địa. Im lặng có giai điệu, im lặng có âm nhạc của bầu trời trong nó. Im lặng của THI CA, im lặng mà nói bằng ngôn ngữ của thi ca, không phải là những ngôn từ thông thường của lời nói, nhưng nó lại nói lên tất cả cùng một điều nào đó. Im lặng mà lại có tính sáng tạo rất lớn đối với thơ ca nói riêng và cuộc sống của con người nói chung.

Chẳng hạn, xin mời các bạn hãy đọc bài thơ ẢO ẢNH CUỘC ĐỜI – Bài thơ thứ 12, trong tập thơ DẠ KHÚC.

ẢO ẢNH CUỘC ĐỜI
(Thơ cho cõi im lặng)
Tôi sẽ vẽ vào trái tim trời đất
Một màu mây vàng thắm buổi yêu người
Tôi sẽ nạm từng dòng sương lệ ngát
Vào mắt tình xanh biếc tuổi hai mươi.
 
Tôi sẽ khắc vào rêu mềm trên đá
Tên loài hoa Vĩnh Cửu toả hương trầm
Và em sẽ cài hoa lên ngực ấm
Như màu trăng rằm suốt cõi trăm năm.
 
Tôi sẽ trải trên đường về Tuyệt Đích
Thơ hồng như màu máu trái tim hồng
Thơ tôi chảy thành trăm dòng diễm tuyệt
Nương theo chiều mây thắm một dòng sông.
 
Tôi sẽ dệt vào áo tình nhung lụa
Từng sợi tơ vàng thắm tuổi xuân thì
Xin mặc lấy linh hồn tôi trắng xoá
Linh hồn tôi vời vợi giọt sương phai.
(HẾT)

Đọc xong bài thơ này, xin bạn đừng gọi đó là MƠ, đây chính là thực tại. Một thực tại đẹp hơn bất cứ một giấc mơ nào. Một thực tại phiêu diêu hơn, rực rỡ hơn, hân hoan hơn và nhiều âm nhạc, vũ điệu hơn sức tưởng tượng của bạn rất, rất nhiều.
 
Bài thơ đã mô tả được sự GIAO CẢM một cách rất siêu thực mà cũng rất thân mật của con người với sự tồn tại. Toàn thể sự tồn tại trên thế gian là một sự hợp nhất hữu cơ. Chúng ta, người với người, không chỉ nắm tay nhau mà bạn còn đang nắm tay với cả cây cối, với trời đất, với cỏ cây hoa lá, với đất đá, ...Chúng ta không chỉ cùng hít thở mà cả VŨ TRỤ này đang hít thở cùng với nhau. Cả vũ trụ này là một bản tổng hoà. Chỉ có con người là đã quên mất ngôn ngữ của sự hoà hợp. Chính bài thơ, đã nhắc nhở bạn nhớ lại bản tổng hoà đó, nhớ lại ngôn ngữ của sự hoà hợp đó.
 
TÔI SẼ VẼ VÀO TRÁI TIM TRỜI ĐẤT
TÔI SẼ NẠM TỪNG DÒNG SƯƠNG LỆ NGÁT  
TÔI SẼ KHẮC VÀO RÊU MỀM TRÊN ĐÁ
TÔI SẼ TRẢI TRÊN ĐƯỜNG VỀ TUYỆT ĐÍCH  
TÔI SẼ DỆT VÀO ÁO TÌNH NHUNG LỤA
LINH HỒN TÔI VỜI VỢI GIỌT SƯƠNG PHAI…

 
Tất cả những câu thơ đó đã phản ánh một điều rằng, tác giả của chúng đã có thể TĨNH LẶNG đến một mức độ có thể cảm nhận được linh hồn mình không thể nào tách rời khỏi linh hồn của sự tồn tại. Trong trạng thái tĩnh lặng đó, ông ấy đã cảm thấy mình đang hoà nhập cùng với trời đất đến mức có thể sẽ vẽ vào được trái tim trời đất, nạm từng dòng sương lệ ngát, khắc vào rêu mềm trên đá, dệt vào áo tình nhung lụa, và linh hồn của ông ấy vời vợi giọt sương phai…
 
Còn lại đa số chúng ta không thể tưởng tượng ra được những điều đó, bởi vì tâm trí của bạn suy nghĩ, bạn sẽ bị tách rời khỏi mọi người, trong lúc bạn đang nghĩ về điều này thì người khác lại nghĩ về điều nọ. Nhưng nếu cả hai người đều tĩnh lặng, bức tường giữa bạn và họ sẽ biến mất.
 
Hai sự tĩnh lặng không bao giờ là HAI mà phải là MỘT. Sự tồn tại của vũ trụ vốn dĩ đã là một sự tĩnh lặng, sự im lặng là hiện diện của những điều thiêng liêng như, Thượng đế, chân lý, Đạo, hay bất cứ cái tên nào mà bạn thích gọi, sự im lặng có phẩm chất khác toàn bộ với sự im lặng của tâm trí con người. Nó nở hoa, nó nở hoa trong cả nghìn lẻ một đoá hoa. Nó có hương thơm, nó trẻ trung, nó tươi tắn; nó không đờ đẫn và chết. Nó không là sự im lặng của nghĩa địa. Nó là im lặng nơi sự sống đang xảy ra, nhưng xảy ra rất im lặng. Vì vậy, chỉ cần bạn thực sự tĩnh lặng, thực sự im lặng mang phẩm chất, sự hiện diện của cái toàn thể, tràn ngập những giá trị cao quý - như yêu thương, tĩnh lặng, an lạc, hạnh phúc, thành kính…- Sẽ cho bạn cảm nhận về sự NHẤT THỂ. Tất cả chúng ta đều là những hình thức thể hiện khác nhau của một thực tế, những bài hát khác nhau của một ca sĩ, những vũ điệu khác nhau của một vũ công, những bức tranh khác nhau của cùng một hoạ sĩ nào đó.

Còn rất nhiều bài thơ khác nữa trong hai tập thơ nói trên của nhà thơ LVT, đã phản ánh được cái im lặng có âm nhạc của một bầu trời trong nó. Ông ấy có thể đã không ngồi im lặng một chỗ. Bạn có thể ngồi một chỗ, để giữ cho tâm trí của mình im lặng, nhưng tâm trí của bạn vẫn có thể tiếp diễn bên trong, nó thậm chí còn huyên thuyên nhiều hơn bao giờ, vì khi bạn đang nói cho mọi người bạn ném năng lượng ra, bạn liên tục tẩy rửa. Nhưng khi bạn không nói cho bất kỳ ai, thì tâm trí bạn lại liên tục tích luỹ năng lượng, và liên tục chuyển động bên trong một cách ĐIÊN hơn.
 
Chỉ bằng việc ngồi im lặng một chỗ, không cái gì sẽ xảy ra, kể cả bạn muốn làm một bài thơ cho cõi im lặng cũng không thể làm được, nếu bạn không nhận biết được, không cảm nhận được chân lý của một loại im lặng khác nói trên. Cây cối là im lặng, đất đá là im lặng – Nhưng chúng không biết chân lý đó là gì.
 
Vậy nên, rất cần có được một loại im lặng khác với sự im lặng giữa LỜI và phần phủ định của LỜI. Loại im lặng nảy sinh từ việc hiểu thật sâu sắc, cái vô tích sự của LỜI & phần phủ định của LỜI – im lặng. Khi ngôn ngữ và im lặng đều bị bỏ đi, nảy sinh một loại im lặng mới toàn bộ, an bình – nhưng sống động, rung động, đập rộn ràng cùng với sự sống, cùng với sự tồn tại của vũ trụ nhân sinh, thì bạn mới có thể sáng tác được những bài thơ tuyệt vời cho cõi im lặng như nhà thơ Lê Văn Trung, yêu quý của chúng ta.
 
LÊ VĂN CHUNG

Thursday, July 20, 2023

Cảm nhận : Một chút cảm nhận vè bài thơ Chiêm Bao 1 & Chiêm Bao 2 của thi sĩ Lê Văn Trung - tác giả Lê Văn Chung

 MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ   CHIÊM BAO 1 & CHIÊM BAO 2 của Lê Văn Trung

 
Trong bài viết, bài MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ THƠ CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN, tôi có bàn đến những quan niệm về HAM MUỐN. Khi đọc lại những bài thơ của nhà thơ Lê Văn Trung, tôi cảm thấy những quan niệm đó có một điều gì đó rất gần gũi với nhà thơ của Lê Văn Trung, qua hai tập thơ DẠ KHÚC & THU HOANG ĐƯỜNG của ông.
 
Tập thơ DẠ KHÚC có 149 bài thơ về tình yêu, và tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG có 93 bài thơ cũng chỉ viết về tình yêu, mà không hề có bất kỳ một chủ đề nào khác với chủ đề tình yêu, cộng lại là 242 bài thơ và hơn 361 trang sách của cả hai tập thơ. Lẽ tự nhiên, tôi và các bạn đọc đều sẽ phải đưa ra một câu hỏi rằng: Nguồn năng lượng nào đã giúp cho thi nhân làm ra được nhiều bài thơ tình hay và sâu sắc như thế?
Phải chăng, là năng lượng CỦA HAM MUỐN. Khi ham muốn là một năng lượng ngập tràn trong tâm thức của thi nhân, cũng là lúc nhà thơ trở thành nhà huyền môn. Chính William Blake - nhà huyền môn sâu sắc nhất, một trong những người đẹp nhất từng đi trên trái đất này, đã nói rằng: HAM MUỐN LÀ NĂNG LƯỢNG & NĂNG LƯỢNG LÀ SỰ VUI THÍCH.
 
Khi bạn ở trong một năng lượng huyền môn, bạn tham gia vào một thứ gì đó của năng lượng ham muốn thuần tuý – không đi tới đâu, không di chuyển tới đâu, bạn chỉ xúc động KHÔNG vì bất kỳ lý do nào, bạn chỉ ngây ngất điên dại không vì một đối tượng, hoặc một lý do nào. Và trong những khoảnh khắc như thế, bạn sẽ có sự kết nối với tồn tại, bởi vì những khoảnh khắc đó chính là thực tại của bạn, bạn thoát ra khỏi tâm trí, để thâm nhập tới cốt lõi sâu nhất ham muốn của bạn, tới chính hạt giống của ham muốn. Khi đó một cái gì to lớn, một cái gì đó không thể tin được, một cái gì đó bạn không thể tưởng tượng được, là có thể - Một sự thâm nhập của bên kia vào bạn, một sự gặp gỡ của trái đất và bầu trời.

Ham muốn là hạt giống cuối cùng của tất cả các hạt giống khác, trong đó có hạt giống THƠ CA. Nó không tồn tại trong tâm trí của bạn, mà nó ở trong tâm thức của bạn. HAM MUỐN là một ĐẠI DƯƠNG bao la, nó lớn như bầu trời – Và ngay cả bầu trời cũng không phải là giới hạn với nó. Tâm trí chỉ có một chút thoáng nhìn của ham muốn, nó chỉ là một thoáng nhìn chập chờn của ham muốn. Tâm trí không biết gì về ham muốn; tâm trí chỉ biết về ham muốn này, ham muốn kia. Ham muốn tiền bạc, ham muốn quyền lực, ham muốn tình dục, ham muốn uy tín…Tâm trí chỉ biết về những ham muốn đối với các đối tượng cụ thể của thế gian. Nhưng khi các đối tượng không còn ở đó nữa, thì ham muốn không còn là một phần của tâm trí. Khi đó ham muốn vượt lên trên tâm trí; thế thì ham muốn chỉ đơn giản là một năng lượng ngập tràn.
 
Chẳng hạn, chúng ta hãy đến với bài thơ CHIÊM BAO 2 – bài thơ thứ 51 của tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG:
 
CHIÊM BAO 2
Không biết rằm chưa hay mười ba
Không biết màu trăng hay màu hoa
Tôi đang mơ giấc chiều xanh biếc
Tình như tương tư tình hôm qua
Có lẽ? Không! Ồ! Em là trăng
Là câu thơ đậu giữa môi hồng
Là hương cổ tích từ muôn kiếp
Là mây mênh mang cùng đêm sương
Có lẽ? Không! Ồ! Em vàng trăng!
Vàng phơi từng đóa nụ hoa vàng
Ôi đêm Huyền diệu phơi tình mộng
Ôi trăng mười ba hay đang rằm
Tôi nghe ai hát qua triền gió
Rụng xuống hồn tôi giọt lệ nồng
Để suốt trăm năm lòng cứ ngỡ
Trăng của màu xanh em nhớ không?
Không biết đêm vàng hay hồn trăng
Không biết da ngời hay dạ lan
Hương bay thơm quá hồn thơ ngọc
Hương lan hay màu trăng mênh mang!
 
Bài thơ đã phản ánh ham muốn của thi nhân, khi ông ta ở trong một năng lượng huyền môn, ngoài tâm trí của mình. Trong bài thơ tác giả đã lặp lại từ KHÔNG sáu lần, trong đó có bốn lần là KHÔNG BIẾT. Tâm trí chỉ có nghĩa là những gì đã sống, đã biết, đã trải qua – quá khứ được tích tụ. Thế mà, ở đây, con người là không biết cả đến thời gian LÀ RẰM HAY MƯỜI BA, không biết MÀU TRĂNG HAY MÀU HOA, không biết ĐÊM VÀNG HAY HỒN TRĂNG, không biết DA NGỜI HAY DẠ LAN… Và đặc biệt thú vị là không biết người yêu của mình là ai? Tất cả chỉ là một sự nghi hoặc: CÓ LẼ? KHÔNG! Ồ! EM LÀ TRĂNG / CÓ LẼ? KHÔNG! Ồ! EM VÀNG TRĂNG. Vậy nên tất cả những ham muốn của con người trong CHIÊM BAO 2 này là nằm ngoài tâm trí. Chúng là những ham muốn không có đối tượng cụ thể nào hết. Tình yêu của anh ta chỉ đơn giản là tình yêu thuần khiết, đó chính là năng lượng thuần khiết, sự khao khát thuần khiết – chỉ là một rung động, một nhịp đập, là một niềm đam mê hồn nhiên nhất có thể của con người. Mặc dù là không biết, nhưng bạn có đó, sự tồn tại có đó, và cuộc gặp gỡ của hai cái CÓ ĐÓ này – cái CÓ ĐÓ nhỏ bé, hữu hạn của bạn, gặp gỡ với cái CÓ ĐÓ vô hạn của sự tồn tại – Cuộc gặp gỡ đó, sự hợp nhất đó, đã tạo nên vẻ đẹp cho những câu thơ:
……
Là câu thơ đậu giữa môi hồng
Là hương cổ tích từ muôn kiếp
Là mây mênh mang cùng đêm sương.
……..
Vàng phơi từng đóa nụ hoa vàng
Ôi đêm huyền diệu phơi tình mộng
Ôi trăng mười ba hay đêm rằm.
Tôi nghe ai hát qua triền gió
Rụng xuống hồn tôi giọt lệ nồng
Để suốt trăm năm lòng cứ ngỡ
Trăng của màu xanh em nhớ không?
……
Hương bay thơm quá hồn thơ ngọc
Hương lan hay màu trăng mênh mang.
 
Rõ ràng HỒN NHIÊN là cánh cửa; thông qua sự hồn nhiên bạn đi vào vẻ đẹp. Bạn càng trở nên hồn nhiên, sự tồn tại càng trở nên tươi đẹp. Bạn càng trở nên hiểu biết, càng nhiều tâm trí, sự tồn tại càng trở nên xấu xí, bởi vì khi đó bạn bắt đầu hoạt động từ những kết luận đã có trong đầu, bạn bắt đầu hoạt động từ kiến thức.

Khoảnh khắc bạn biết, bạn phá huỷ tất cả THI CA. Khoảnh khắc bạn biết, hoặc bạn nghĩ rằng bạn biết, bạn đã tạo ra một rào cản giữa bạn và CÁI ĐÓ. Rồi mọi thứ đều méo mó. Khi đó, bạn không nghe nó bằng tai của mình mà bạn lại đi dịch nó sang ngôn ngữ của bạn. Khi đó, bạn không thấy nó bằng mắt của mình, mà bạn lại đi giải thích nó bằng những cái đã biết của mình. Bạn đã không trải nghiệm nó với trái tim của mình, nhưng bạn lại nghĩ rằng mình đã trải nghiệm. Và khi đó mọi khả năng về sự gặp gỡ với tồn tại theo cách ngay lập tức, trong sự thân mật, sẽ biến mất. Bạn đã bị rơi thành từng mảnh. Vì vậy, hãy sống những khoảnh khắc mà không có kiến thức, khi bạn biết rằng TÔI KHÔNG BIẾT, hoạt động từ trạng thái không biết này, bạn sẽ biết thế nào là vẻ đẹp của tồn tại.
 
Nhà thơ Lê Văn Trung biết vẻ đẹp là gì, bởi vì ông ta hoạt động trong trạng thái KHÔNG BIẾT này. Có đó một sự hiểu biết mà là không biết, và có đó một sự thiếu hiểu biết mà là biết. Trở nên thiếu hiểu biết như Lê Văn Trung và khi đó một phẩm chất hoàn toàn khác đi vào trong bản thể, trong tâm thức của bạn: Bạn trở thành một đứa trẻ, đó chính là sự tái sinh của bạn. Đôi mắt của bạn đầy sự ngạc nhiên một lần nữa, mỗi và mọi thứ xung quanh đều đáng ngạc nhiên, HƯƠNG BAY THƠM QUÁ HỒN THƠ NGỌC / HƯƠNG LAN HAY MÀU TRĂNG MÊNH MANG.
 
Quay lại với bài thơ CHIÊM BAO 1- Bài thơ thứ 50 của tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG, bạn sẽ bắt gặp những vẻ đẹp tuyệt vời của những cuộc gặp gỡ giữa cái hữu hạn với cái vô hạn – và như thể bạn bắt đầu trượt vào Đại dương của Thượng đế:
 
CHIÊM BAO 1
Một hôm vườn cũ em về lại
Những giọt sương mềm ôm gót chân
Hoa của mùa xưa hồng mấy đoá
Viên sỏi bên đường cũng tỏa hương
Và hồn thơ biếc thơm như mật
Một trái môi tình men thoáng say
Con dế đa tình ru tiếng hát
Xanh quá như lời của cỏ cây
Tôi chép thơ lên mỗi bước tình
Đêm vàng đêm ngọc sáng lung linh
Ôi hồn nhung lụa như sương mỏng
Đừng để tan vào nỗi nhớ quên!
 
Trong những khoảnh khắc hồn nhiên, KHÔNG BIẾT, sự khác biệt giữa người quan sát và cái được quan sát bốc hơi. Bạn không còn tách biệt với những gì bạn đang thấy, bạn không còn tách rời với những gì bạn đang nghe. VIÊN SỎI BÊN ĐƯỜNG CŨNG TOẢ HƯƠNG / CON DẾ ĐA TÌNH RU TIẾNG HÁT…
 
Vẻ đẹp của thơ ca là một trải nghiệm xảy ra trong sự HỒN NHIÊN của thi sĩ, đóa hoa đó chỉ có thể nở ra trong sự hồn nhiên của con người. Bởi vậy mà chúa Jesus đã từng nói rằng: TRỪ KHI BẠN GIỐNG NHƯ ĐỨA TRẺ NHỎ, BẠN SẼ KHÔNG VÀO ĐƯỢC VƯƠNG QUỐC CỦA THƯỢNG ĐẾ”.
 
LÊ VĂN CHUNG

Wednesday, July 5, 2023

Cảm nhận : MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ NGƯỜI THƠ HÀN MẶC TỬ - Lê Văn Chung

 
MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ NGƯỜI THƠ HÀN                                      MẶC TỬ
Sau bài viết MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ NGƯỜI                          THƠ Lê Văn Trung.
 
Qua tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG của ông, tôi lại muốn quay lại với người thơ Hàn Mặc Tử để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu thêm một chút nữa về thiên tài thơ ca, một nhà HUYỀN MÔN rất lớn, rất vĩ đại của trường phái NGHỆ THUẬT VỊ NGHỆ THUẬT, mà tôi vô cùng yêu thích, và vô cùng ngưỡng mộ. Chính những bài thơ của Lê Văn Trung, đã làm cho tôi có cảm hứng quay lại với những bài thơ của Hàn Mặc Tử để đọc đi, đọc lại thêm nhiều lần nữa, và mỗi lần đọc lại như thế, dường như tôi lại cảm nhận được những điều gì đó, hết sức mới lạ về thơ của Hàn Mặc Tử, mà trước đây mình cũng đọc nhưng không cảm nhận được hết những điều HUYỀN NHIỆM trong thơ HÀN.
 
Những nhà thơ bình thường, họ chỉ biết những khoảnh khắc nhất định của THƠ, nhưng họ chưa phải là NHÀ THƠ THẬT SỰ theo đúng nghĩa của từ Nhà Thơ, họ chỉ là một phần của NHÀ THƠ. Họ đã có một vài cái nhìn thoáng qua khi cánh cửa của những điều chưa biết mở ra cho họ. Họ có một lối đi nào đó vào những nguồn sống sâu sắc nhất, nhưng những khoảnh khắc đó là những món quà tuyệt vời từ những điều chưa biết, họ chưa biết gì về cách để tiếp cận chúng. Nó gần như là một trạng thái PHI Ý THỨC. Nó đã xảy ra trong một giấc mơ, giống như nó đã xảy ra với bạn trong một giấc mơ. Họ vẫn chỉ là những kẻ mơ mộng.
 
Chẳng hạn, nhà thơ Hoàng Cầm thường hay nói về việc ông sáng tác một số bài thơ, những bài hay nhất của mình, là do một người nữ vô hình nào đó đọc cho chép. Có khi một câu, có khi một đoạn, thậm trí khi trọn vẹn cả bài. LÁ DIÊU BÔNG là một trường hợp tiêu biểu: «Chẳng có chuyện gì phải lo nghĩ, chẳng có ý định gì trong đầu mà sao về quá nửa đêm một mùa rét ấy, tôi vẫn không ngủ được (…). Im lặng. Chợt bên tai văng vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt. Đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như từ thời nào xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về:
 
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng…
 
Tôi xoay người trong chăn về phía bên trái và ghi ngay. Giọng vẫn đọc, không vội vàng và cũng không quá chậm, và tôi ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc giọng nữ im hẳn, lòng tôi nhẹ bỗng đi, một lát sau tôi ngủ thiếp. Sớm hôm sau nhìn lại thì có chỗ rõ, đọc được, nhiều chỗ dòng nọ đè lên dòng kia, chữ này xóa mất chữ khác. Phải mất gần tiếng đồng hồ, tôi mới tách ra được theo đúng thứ tự như lời người nữ kỳ diệu đó đã đọc cho tôi viết nửa đêm hôm qua» - Trích trong VĨ THANH, trang 160 – 16.
 
Hoàng Cầm là một nhà thơ vĩ đại của xứ Kinh Bắc, mà còn như vậy, thì các nhà thơ bình thường khác của thế giới, họ đều là những NGƯỜI MƠ. Đúng thế, họ đã có một cái nhìn thoáng qua trong trong giấc mơ của mình: Một thứ gì đó thâm nhập, ở đây và ở đó một tia sáng có thể đi qua hàng rào của những giấc mơ, và thậm chí tia sáng đó cũng đủ để tạo ra một Shakespeare, hoặc một Hoàng Cầm. Nhưng đó không phải là một trung tâm thơ thực sự.
 
Trung tâm THƠ thực sự phải là một dòng chảy qua Chư Phật. Đó mới chính là THƠ THẬT. Chư Phật, không phải là người mơ mộng, Chúa Jesus không phải là người mơ mộng; Nếu họ là bất cứ điều gì họ đều là người thức tỉnh. Giấc mơ đã biến mất, bốc hơi. Khi đó, nó không chỉ là những cái nhìn thoáng qua về một sự thật bất ngờ đến với họ, sở hữu họ, và sau đó để họ trống rỗng, tiêu hao, kiệt sức…Một nhà thơ bình thường, đơn giản là những bước nhảy ngắn; trong một khoảnh khắc anh ta lên khỏi mặt đất, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc, và sau đó anh ta lại trở lại mặt đất.
Nhưng với thi nhân Hàn Mặc Tử thì rất khác – Ông ấy không phải là một bước nhảy ngắn, mà ông ấy đã có đôi cánh trong tâm hồn của mình. Ông ấy biết cách để đi đến những ngôi sao xa nhất:
 
Nhớ khi xưa ta là chim Phượng Hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất…
Bay từ Đao Ly đến thời Đâu Suất;
Và lùa theo không biết mấy là hương…
Lúc đằng vân gặp ánh sáng chặn đường,
Chạm tiếng nhạc, và nhằm THƠ thiên cổ…
Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ,
Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao.
(PHAN THIẾT! PHAN THIẾT!)
 
Hàn Mặc Tử dường như là biết cách tiếp cận với những điều chưa biết, ông ấy có chìa khóa để mở những điều bí ẩn. Ông ấy là một bậc thầy. Và rồi một cái gì đó bắt đầu chảy qua ông mà không phải của ông. Ông chỉ là phương tiện : Ông bị chiếm hữu:
 
Ta chấp hai tay lạy quỳ hoàn hảo
Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian
Để vừa dâng, vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giầu sang hơn Thượng Đế.
Đã no nê, đã bưa rồi thế hệ
Của phường trai mê mẩn khí thanh cao.
Phượng Hoàng bay trong một tối trăng sao
Mà ánh sáng không còn khiêm nhượng nữa.
(ĐÊM XUÂN CẦU NGUYỆN)
 
Khi đó, bất cứ điều gì Hàn thi sĩ nói cũng đều là THƠ; hoặc, ngay cả khi ông giữ im lặng, sự im lặng của ông cũng là thơ. Sự im lặng của ông có sự du dương bao la trong đó:
 
Sông Ngân đã im lìm trong tiếng sóng
Mà lòng anh rào rạt mãi không thôi!
Ở tầng cao khúc Nghê Thường đồng vọng!
Nghe gì đâu, em hỡi! Ráng mây trôi.
(SÁNG LÁNG)
 
Dù Hàn Mặc Tử có nói hay không,
không quan trọng. Nói, ông nói thơ; khi không nói ông vẫn là THƠ:
...
Trở lại Trời tu luyện với muôn đêm
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.
Ta trở nên như ngọc đàng kim mã
Rất hào hoa rất phong vận: NGƯỜI THƠ…
Ta là trai khí huyết ước ao mơ
………
Trăng vàng ngọc, trăng ân tình, chưa phỉ!
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng.
Ta vung vãi THƠ lên tận sông Hằng.
Thơ phép tắc bỗng kêu rêu thống thiết:
Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
(PHAN THIẾT! PHAN THIẾT!)
 
Hàn Mặc Tử được bao quanh bởi THƠ: Ông đi trong thơ, ông ngủ trong THƠ, thơ là chính tâm hồn của ông, đó chính là bản thể thiết yếu, cốt lõi của ông:
 
Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc,
Sáng bao la vây lút cõi thiên không.
Xuất thế gian chưa có tại trong lòng,
Muôn Ý TỨ say chìm nơi bất giác
Hương cám dỗ mê người trong khoái lạc.
……..
Xuân ra đời….
Điềm ngọc ấm như ngà,
THƠ có tuổi và chiêm bao có tích,
Và tâm tư có một điều rất thích,
Không nói ra vì sợ bớt say sưa!
(RA ĐỜI)
 
Giấc mơ của con người có thể rất có ý nghĩa. Những gì chưa được phép xuất hiện trong ý thức của bạn, khi bạn vẫn còn đang THỨC, thì có thể chúng sẽ nảy sinh trong ý thức của bạn, khi bạn đang trong một cơn mơ nào đó. Một tia sáng đã chiếu vào bạn. Thế nên, hãy luôn cẩn trọng với những giấc mơ của bạn. Bởi vì, nền văn hoá Phương Đông luôn chấp nhận rằng: Ý thức khi thức là ý thức hời hợt nhất, ý thức khi mơ sâu xa và có ý nghĩa hơn, và ý thức khi ngủ còn sâu hơn, thậm trí còn quan trọng hơn cả ý thức khi mơ (Bài thơ LÁ DIÊU BÔNG của Hoàng Cầm đã ra đời trong giấc ngủ ông). Có lẽ văn hoá Phương Tây cần có một Freud khác để có thể giới thiệu giấc ngủ sâu như một phần quan trọng nhất của ý thức con người.
 
Nhưng ở nền văn hoá Phương Đông còn biết có một điều gì đó hơn thế. Có một điều quan trọng đó là, trạng thái thứ tư của ý thức. Nó là turiya, đơn giản là thứ tư. TURIYA có nghĩa là thứ tư, đó là trạng thái khi: THỨC, MƠ & NGỦ đều biến mất, con người, khi đó, chỉ đơn giản là một nhân chứng. Bạn không thể gọi nó là THỨC, bởi vì nhân chứng này không bao giờ ngủ; bạn cũng không thể gọi nó là MƠ, bởi vì đối với nhân chứng này, không có giấc mơ nào xuất hiện; bạn cũng không thể gọi nó là NGỦ, bởi vì nhân chứng này không bao giờ ngủ. Đó chính là sự nhận biết vĩnh cửu. Đây chính là tâm Phật, là tâm thức Christ, là Phật tính, là sự giác ngộ của con người.
 
Thơ của Hàn Mặc Tử, thực sự xảy ra trong trạng thái thứ tư của ý thức. Khi ông đã trở nên hoàn toàn tỉnh táo, trong trẻo. Tất cả là sự trong trẻo, sự trong trẻo đó là sự tự do, sự trong trẻo đó là sự thông minh, sáng suốt cho thi sĩ. Sự trong trẻo đó chính là sự TÁI SINH, HỒI SINH ra một tâm hồn thơ bất tử, họ là HÀN MẶC tên là TỬ. Chẳng hạn, chúng ta hãy đọc bài thơ XUÂN ĐẦU TIÊN của ông chúng ta sẽ cảm nhận được sức mạnh vô song của sự trong trẻo, trắng trẻo, thuần khiết, tinh khôi…
 
XUÂN ĐẦU TIÊN
Mai sáng mai, trời cao rộng quá!
Gió căng hơi và nhạc lên mây
Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm
Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay…
Mai này thiên địa mới tinh khôi
Gió căng hơi và nhạc lên trời,
Chim khuyên hót tiếng đầu tiên hết,
Hoa lá hồ nghi sự lạ đời.
Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm,
Còn mặt trời kia tợ khối vàng…
Có người trai mới im như nguyệt
Gió căng hơi và nhạc lên ngàn…
Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,
Mùa thơ chưa gặt tốt tươi lên,
Người thơ phong vận như thơ ấy
Nào đã ra đời ngọc biết tên.
Có người trai mới im như nguyệt
Mùi thơm ngây dại sóng con người
Hãy hoan hô lời cao như sấm:
Vạn tuế, bay ơi! Nắng rợp trời!
 
Đó cũng là ý nghĩa của huyền thoại Phượng Hoàng. Nó chết, nó hoàn toàn bị thiêu rụi, biến thành tro tàn, và rồi đột nhiên nó được tái sinh từ đống tro tàn – Nó hồi sinh. Phượng Hoàng đại diện cho Christ: Đóng đinh và phục sinh. Phượng hoàng đại diện cho Phật: Cái chết như một bản ngã, và một sự sinh thành mới là vô ngã. Nó đại diện cho tất cả những người BIẾT; biết có nghĩa là Phượng Hoàng. Chính vì thế mà chúng ta bắt gặp từ Phượng Hoàng xuất hiện trong rất nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử, đặc biệt là trong phần thơ có tựa đề là XUÂN NHƯ Ý.
 
Tóm lại, Người Thơ Hàn Mặc Tử, là một người đã đạt đến TRUNG TÂM THƠ, nơi mà chàng thi sĩ họ Hàn có thể hòa tan chính mình vào thi ca, và cũng là hòa tan chính mình vào Thượng Đế. Vì vậy mà bạn đọc sẽ thấy THƠ của ông chứa đựng tất cả, nó chứa đựng tình yêu, nó chứa đựng lời cầu nguyện, nó chứa đựng thiền định, và nó chứa đựng nhiều hơn nữa. Tất cả những gì là thiêng liêng, tất cả những gì là đẹp đẽ, tất cả những gì có thể đưa bạn đến siêu việt, đều được chứa trong thơ của ông.
 
THƠ của ông không chỉ là thơ: Mà nó còn là một cái gì đó như một tôn giáo thiết yếu. Đọc thơ của ông, bạn sẽ có sự cảm nhận rằng: Nó là một trạng thái mà tâm trí của bạn không còn can thiệp vào giữa bạn với sự tồn tại – Trực tiếp, ngay lập tức; khi bạn đột nhiên bị chiếm hữu bởi TOÀN BỘ, nơi bạn biến mất như một thực thể riêng biệt & TOÀN BỘ bắt đầu nói chuyện với bạn, bắt đầu khiêu vũ thông qua bạn; nơi bạn trở thành một cây tre rỗng và toàn bộ bạn biến thành một cây sáo.
 
Tôi cho rằng THƠ của Hàn Mặc Tử còn thần thánh hơn cả những gì được gọi là kinh sách. Và bởi vì những bài thơ của Hàn Mặc Tử đích thực thần thánh nên chúng không tạo ra một thứ tôn giáo nào xung quanh chúng. Chúng không trao cho bạn bất kỳ một nghi lễ nào, kỷ luật nào, hay một điều răn nào. Chúng chỉ đơn giản cho phép bạn nhìn thoáng qua trải nghiệm mà chúng có được. Toàn bộ trải nghiệm đó không thể được diễn tả bằng lời, nhưng Hàn Mặc Tử đã cố diễn tả nó bằng ngôn từ của mình, nhưng có một điều gì đó…Có lẽ không phải nguyên một đóa hoa, mà chỉ có vài cánh hoa mà thôi. Vài cánh hoa thôi cũng đủ để chứng minh sự tồn tại của một bông hoa. Cửa sổ của bạn chỉ cần mở ra để cho cơn gió mang những cánh hoa ấy vào là được.

LÊ VĂN CHUNG

Sunday, July 2, 2023

Cảm nhận: MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ CON NGƯỜI THƠ Lê Văn Trung QUA TẬP THƠ THU HOANG ĐƯỜNG CỦA ÔNG - Lê văn Chung-

 MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ CON NGƯỜI THƠ Lê Văn Trung QUA TẬP THƠ THU HOANG ĐƯỜNG CỦA ÔNG

                            -Lê văn Chung-

Hôm 26/6/2023, tôi nhận được một tin nhắn của nhà thơ Lê Văn Trung gửi cho tôi, trong đó ông đã nhắc lại một đoạn coment của tôi cách đây hơn một năm về bài thơ MÙA THU TRONG CƠN MƠ – Bài thơ thứ 36 trong tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG của ông: «Một bài thơ quá hay về TÌNH THU cũng có nghĩa là TÌNH THƠ. Phải là nhà thơ Lê Văn Trung, một người yêu thơ thật nồng thắm thiết tha, luôn luôn sống với THƠ, ăn bằng THƠ, ngủ bằng THƠ và yêu bằng THƠ, thì mới có thể viết được những câu thơ nồng nàn, sâu sắc như thế về TÌNH THU».

 
Hôm nay, khi đã có trong tay cả một tập thơ, gồm 93 bài thơ thật tuyệt diệu này, tôi lại muốn viết thêm một chút về Thơ & con người Thơ Lê Văn Trung này mà tôi rất yêu quý và kính trọng. Đúng như thi nhân Hàn Mặc Tử đã từng viết:
 
Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,
Mùa THƠ chưa gặt tốt tươi lên
Người THƠ phong vận như THƠ ấy
Nào đã ra đời NGỌC biết tên.
(XUÂN ĐẦU TIÊN – XUÂN NHƯ Ý)
 
Với Lê Văn Trung, sau khi được đọc hai tập thư DẠ KHÚC & THU HOANG ĐƯỜNG, thì tôi có cảm giác rằng: Cuộc sống của ông được bao quanh bởi THƠ: Ông đi trong Thơ, ông ngủ trong thơ (không phải là ngủ bằng Thơ như coment nói trên). Thơ là chính tâm hồn ông, đó là bản thể thiết yếu của ông. Khi đó, bất cứ điều gì ông nói đều là thơ, hoặc, ngay cả khi ông giữ im lặng, sự im lặng của ông cũng là THƠ. Sự im lặng của ông cũng có sự du dương bao la ở trong đó (trong tập thơ DẠ KHÚC, đã có ít nhất 4 bài thơ viết cho cõi IM LẶNG, đó là ẢO ẢNH CUỘC ĐỜI; TÌNH XANH; NGỒI LẠI CÙNG TÔI; TRĂM MÙA THU YÊU EM).
THƠ của Lê Văn Trung chứa đựng tất cả: Nó chứa đựng tình yêu, nó chứa đựng lời cầu nguyện, nó chứa đựng THIỀN, và nhiều hơn nữa. Tất cả những gì là thiêng liêng, tất cả những gì là đẹp đẽ, tất cả những gì có thể đưa bạn đến sự siêu việt, đều được chứa trong THƠ của ông.
 
THƠ của ông không chỉ là thơ: Mà nó còn là một cái gì đó như một tôn giáo thiết yếu. Đọc thơ của ông, bạn sẽ có sự cảm nhận rằng: Nó là một trạng thái mà tâm trí của bạn không còn can thiệp vào giữa bạn với sự tồn tại – Trực tiếp, ngay lập tức ; khi bạn đột nhiên bị chiếm hữu bởi TOÀN BỘ, nơi bạn biến mất như một thực thể riêng biệt & TOÀN BỘ bắt đầu nói chuyện với bạn, bắt đầu khiêu vũ thông qua bạn; nơi bạn trở thành một cây tre rỗng và toàn bộ bạn biến thành một cây sáo.
 
Tôi đang thở với đất trời
Giữa bao la giữa cuộc đời mênh mông
Tôi đang soải cánh vô cùng
Với mây ngũ sắc trập trùng ngàn phương
Tôi đang tan vào mưa sương
Và đang say giữa rừng hương sắc người
Tôi đang uống giọt tình vui
Từ trong mắt lệ rực ngời lửa thiêng.
Tôi đang gửi trái tim mình
Vào tim trời đất vào mênh mang đời
Em ơi hãy nở giùm tôi
Nụ hoa tình của một thời thanh xuân
Hãy đi cho đến vô cùng
Đi cho tận cõi thuỷ chung nhiệm màu.
(TRÁI TIM TÔI TIM CỦA ĐẤT TRỜI)
 
Làm thế nào THƠ như thế xuất hiện? Phải chăng nó chỉ xảy ra trong sự buông bỏ một cách trọn vẹn nhất, nó chỉ xảy ra khi một phần là, con người ông, tâm thức ông, đủ CAN ĐẢM để buông bỏ với toàn bộ một cách trọn vẹn nhất, khi ông là một giọt sương rơi xuống đại dương và trở thành đại dương.
 
Buông bỏ là một trạng thái rất nghịch lý : Một mặt cái tôi, cái bản ngã của bạn biến mất, mặt khác bạn xuất hiện lần đầu tiên trong vinh quang vô hạn của bạn, trong sự huy hoàng đa chiều của bạn. Đúng thế, giọt sương đã biến mất, và biến mất mãi mãi; không có cách nào để chiếm lại nó, để đòi lại nó. Giọt sương đã chết như một giọt nước, nhưng trên thực tế, giọt sương đã trở thành đại dương, đã trở nên thuộc vào đại dương. Nó vẫn tồn tại, không còn là một thực thể hữu hạn, mà như một cái gì đó vô hạn, vô định, không có biến giới.
Chúng ta, hãy đến với bài thơ VỀ ĐÂU CŨNG VỀ - Bài thơ thứ 69 của tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG.
 
VỀ ĐÂU CŨNG VỀ
Thôi thì bỏ chợ bỏ sông
Bỏ bao nhiêu chuyện đèo bòng đời ta
Bỏ phên giậu bỏ cửa nhà
Bỏ ta ngồi giữa yêu ma phận người.
Xem như bỏ chín làm mười
Bỏ tha phương bỏ ngậm ngùi phù vân
Không hiện hữu chẳng hư không
Là tan là rã trong từng sát na
Không bản quán không quê nhà
Ta lơ lửng giữa thiên hà ngàn năm
Tiếc chi mấy tấc đất nằm
Mà ôm sinh diệt mà cầm tồn vong
Bơ vơ một nhúm bụi hồng
Đìu hiu một sợi khói mong manh sầu
Bỏ hạnh phúc bỏ thương đau
Đầu ghềnh cuối bãi về đâu cũng về.
Theo những dòng viết trong PHỤ TRANG của tập thơ.
 
Nhà thơ Lê Văn Trung, sinh năm 1947 tại Đà Nẵng, Hiện ông đang sống tại Đồng Nai, Việt Nam. Tốt nghiệp Sư Phạm Quy Nhơn. Dạy học tại Quãng Ngãi và Huế từ 1969 đến 1975. Sau 1975 cuốc đất trồng khoai. Cũng đã cho chúng ta thấy ông là một con người đã hội tụ đầy đủ bản lĩnh, đầy đủ sự can đảm để buông bỏ một cách trọn vẹn, để thoát khỏi những nanh vuốt của một xã hội. Một xã hội được định hướng bởi quyền lực. Xã hội vẫn hoàn toàn nguyên thuỷ, hoàn toàn man rợ. Một nhóm người đang thống trị hàng nhiều chục triệu người. Việc xã hội VN sau 1975, để cho một nhà thơ lớn, một nhà giáo tài giỏi như Lê Văn Trung, phải cuốc đất trồng khoai, chắc chắn phải là một sai lầm nào đó của nó. Nếu không, xã hội này đã thành công trong việc phá huỷ tận gốc rễ của con người, phá huỷ sự sáng tạo của các nhà thơ, nhà văn của nó. Và thật may cho Thơ ca VN, nhờ có sự sai lầm nào đó của xã hội, mà nhà thơ LVT của chúng ta đã tìm ra được con đường trở về với chính mình, ông đã biết cuốc đất trên những CÁNH ĐỒNG CHỮ NGHĨA để sáng tạo ra những bài thơ tuyệt diệu như thế.
 
Con đường của ông là buông bỏ một lần và mãi mãi đối với xã hội đương đại, để cho cuộc sống của ông có thể được bao quanh bởi THƠ: Ông đi trong Thơ, ông ngủ trong thơ. Thơ là chính tâm hồn ông, đó là bản thể thiết yếu của ông. Và khi đó, ông đã nhận biết được đâu là phúc lành của cuộc sống đang mưa lên chính mình. Ông có đủ sự thông minh để nhận biết vẻ đẹp của sự tồn tại. Ông có đủ sự nhạy cảm để nhận biết được những phép màu tuyệt vời bao quanh mình.
 
Đối với ông mỗi khoảnh khắc là là tinh khiết, một sự tinh khiết của vui thích, niềm vui, phúc lạc. Rồi mỗi khoảnh khắc là vĩnh hằng, là trăm năm:
 
KHOẢNH KHẮC VÀ TRĂM NĂM
Tôi xin làm hạt lệ
Trên môi tình đang hương
Đừng lau hồn tôi nhé
Hồn lụa mềm như sương
Xin là gọt nắng phai
Trên tóc chiều gió rối
Đừng bay khỏi hồn tôi
Hạt bụi tình cứu rỗi
Tôi xin làm hạt lệ
Lăn mặn bờ môi người
Em giam cầm tôi nhé
Trong ngực tình tinh khôi
Đừng vội uống hồn tôi
Thấm đau dòng máu đỏ
Giọt lệ tình sẽ vỡ
Vạn đoá tình em ơi
Khoảnh khắc là trăm năm
Xin bay cùng vô tận
Khoảnh khắc là hư không
Tôi ôm choàng hố thẳm.
 
Sống theo cách đó là THI CA, sống từng khoảnh khắc mà không có bản ngã là thi ca, sống mà không có bản ngã là khoan dung, là ÂM NHẠC, và sống mà không có bản ngã là thực sự sống, thực sự yêu cuộc sống. Cuộc sống đó mới thực sự đáng được gọi là THI CA, mới thực sự đáng được gọi là PHONG VẬN NHƯ THƠ ẤY, mới thực sự là RA ĐỜI NGỌC BIẾT TÊN.
Thi ca, là cuộc sống, là cuộc đời của một người mà người đó đã thực sự buông bỏ với tồn tại, hãy nhớ rằng: Khi bạn buông bỏ với sự tồn tại, bạn không buông bỏ bất cứ điều gì có thật. Bạn chỉ đơn giản là buông bỏ một quan niệm sai lầm, một ảo ảnh, một bóng ma, bạn buông bỏ thứ mà ngay từ đầu chưa bao giờ có với bạn. Và bằng cách buông bỏ những gì bạn không có, bạn sẽ đạt được những gì bạn có. Từ buông bỏ nhiều khi đem đến cho bạn một ý niệm rất sai lầm, như thể bạn đang buông một cái gì đó. Không, bạn không buông bỏ bất cứ thứ gì cả ; mà bạn chỉ đơn giản là đánh rơi một giấc mơ, đánh rơi một thứ gì đó tuỳ tiện mà XÃ HỘI đã tạo ra cho con người bạn.
 
Tình yêu là một con đường, cầu nguyện là một con đường, THIỀN là một con đường, bởi vì chúng là những cách để làm THƠ. Bất cứ điều gì dẫn bạn đến với Thượng đế, chắc chắn sẽ dẫn bạn đến với THI CA. Con người của Thượng đế không thể là gì ngoài một nhà THƠ. Anh ấy sẽ hát lên một bài ca, không phải của riêng anh ấy nữa, mà đó là một bài ca của Thượng đế. Anh ta có thể đã nói ra sự im lặng của Thượng đế, anh ta sẽ là một nhạc cụ tấu lên cho toàn bộ của vũ trụ và nhân sinh.
 
Hoà tan chính mình vào trong THI CA, là hoà tan chính mình vào trong Thượng đế - Và chắc chắn không buông bỏ là điều không thể. Nếu bạn vẫn còn quá nhiều, Thượng đế sẽ không thể xuất hiện với bạn được. Cái tôi, cái bản ngã của bạn phải vắng mặt, thì ngài mới có thể trở nên hiện diện trong bạn được.
 
LÊ VĂN CHUNG

Thursday, June 29, 2023

Cảm nhận: MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ: MÙA THU HOANG ĐƯỜNG – Bài thơ của Lê Văn Trung - Lê Văn Chung

  

MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ:
MÙA THU HOANG ĐƯỜNG – Bài thơ của Lê Văn Trung.
                                           Lê Văn Chung
 
Trong bài viết: MỘT CHÚT CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ THU HOANG ĐƯỜNG – Tập thơ của Lê Văn Trung. Tôi đã viết về những cảm nhận của mình về thơ ca của Lê Văn Trung, xin nhắc lại một lần nữa như sau: Thơ ca là một khoa học theo nghĩa nó chính là sự hiểu biết thuần khiết nhất. Tuy nhiên, nó không phải là một khoa học theo nghĩa Hoá học & Vật lý. Nó không phải là khoa học của bên ngoài, nó chính là khoa học của bên trong. Nó không phải là khoa học về ngoại cảnh, mà nó là khoa học của NỘI TÂM. Đó là khoa học đưa bạn đi xa hơn vào cái chưa biết, thậm chí không thể biết được. Nhiều khi nó là cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất, là một lời kêu gọi và thách thức đối với tất cả những ai có can đảm, gan dạ, trí thông minh, sự nhạy cảm nhất có thể.
MÙA THU HOANG ĐƯỜNG là gì?
 
Mùa là một khoảng thời gian nào đó của một năm, của một kiếp người, nếu bạn rút gọn lại thì nó là một khoảnh khắc. THU HOANG ĐƯỜNG, là phẩm chất của khoảng thời gian đó. Nó sẽ là hoang đường về mặt khoa học thông thường, về mặt ngoại cảnh, về mặt xã hội của cõi nhân gian. Nhưng, nó sẽ là KHÔNG hoang đường về mặt nội tâm bên trong tâm thức, bên trong bản thể của con người. Mà nó chính là một sự BÍ ẨN, đối với hầu hết mọi người chúng ta, bởi vì nó nằm ngoài cơ thể, ngoài tâm trí của con người, nằm ngoài ngôn ngữ, nằm ngoài mọi khái niệm của những khoa học xã hội thông thường khác THƠ CA. Mỗi bài thơ trong tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG sẽ là một lời kêu gọi, thách thức tất cả những ai có can đảm, gan dạ, trí thông minh, dám bước vào những cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất là quay trở về định cư trong BẢN THỂ ĐÍCH THỰC của mình, cư ngụ trong bản chất của nhận thức cơ bản, cái cốt yếu, cái thuần khiết tự nhiên nhất của con người.

Nhà thơ Lê Văn Trung là một nhà thơ lớn của xứ Quảng, sinh năm 1947 tại Đà Nẵng, Hiện ông đang sống tại Đồng Nai, Việt Nam. Tốt nghiệp Sư Phạm Quy Nhơn. Dạy học tại Quảng Ngãi và Huế từ 1969 đến 1975. Sau 1975 cuốc đất trồng khoai. Đó là theo những dòng viết trong PHỤ TRANG của tập thơ. Mặc dù, sau 1975 ông có cuốc đất trồng khoai đi chăng nữa thì khi bạn đọc, tiếp xúc với thơ của ông, bạn sẽ cảm nhận được ở trong con người của ông đang sở hữu một trí năng vĩ đại, sự can đảm vĩ đại, tính chính trực vĩ đại, và một trái tim vĩ đại để đi vào bên trong bản thể của chính ông. Ông là một con người thông minh cho nên ông sẵn sàng dấn vào những điều chưa biết. Hiện hữu trong trạng thái của những điều chưa biết, thậm chí không thể biết. Đó chính là trí thông minh của ông.
 
Trí thông minh là nhận thức, và nó không thể tích lũy. Mỗi khoảnh khắc xảy ra đều sẽ biến mất, không để lại dấu vết hiện hữu nào. Chúng ta bước ra khỏi từng khoảnh khắc và trở lại thuần khiết, nguyên sơ, trở lại hồn nhiên như đưa trẻ. Cuộc sống không phải là một bài toán. Nó là thứ không đo lường được, nó là một sự BÍ ẨN, cần được sống, được yêu thương, được trải nghiệm, mà không cần phải đặt bất kỳ câu hỏi nào, chỉ đơn giản là bạn hãy đi sâu vào nó một cách can đảm và không sợ hãi. Đọc thơ của Lê Văn Trung, tôi cảm nhận thấy ông là một người như thế. Chẳng hạn, chúng ta hãy đến với bài thơ MÙA THU HOANG ĐƯỜNG – Bài thơ thứ 20, trong tập thơ cùng tên.
 
MÙA THU HOANG ĐƯỜNG
Hình như mùa thu chưa trở về
Hình như người còn xa rất xa
Tiếng còi tàu vọng từ thiên cổ
Nghìn đời chưa đến một sân ga
Hình như mùa thu chưa trở lại
Và người chìm khuất như cơn mơ
Cánh chim mùa cũ chừng bay mỏi
Đậu xuống hồn tôi chết sững sờ
Có lẽ hao vàng chưa toả hương
Có lẽ đêm quỳnh chưa ngậm sương
Thu ơi thu vẫn chìm trong mộng
Thu ơi thu vẫn còn hoang đường
Có lẽ em là thu! Phải không?
Có lẽ em là hoa chưa vàng
Hình như hương nhụy chìm quên lãng
Tình chưa hàm tiếu mùa ái ân
Cứ ngỡ rằng thu, thu đã về
Đâu ngỡ rằng em, xa quá xa
Mà sao tiếng hú từ thiên cổ
Con tàu vô định một sân ga.
 
Mọi câu hỏi đều ngớ ngẩn, và mọi câu trả lời cũng vậy. Thực tại là một bí ẩn, nó không phải là một câu hỏi để được hỏi. Đó là một bí ẩn để được sống, một bí ẩn cần được trải nghiệm, một bí ẩn để được yêu thương, một bí ẩn để được hoà tan, để được nhấn chìm vào đó. Thực tế sẽ không bao giờ đến với bạn dưới dạng một câu trả lời. Nó chưa bao giờ xảy ra theo cách đó, và nó sẽ không xảy ra theo cách đó, nó không phải là bản chất của sự vật. Thực tế chỉ đến với bạn khi không còn câu trả lời nào nữa; thực tế đến với một trạng thái PHI CHẤT VẤN của nhận biết.
Chính vì thế mà thi nhân đã sử dụng từ HÌNH NHƯ dưới dạng những câu thơ sau:
 
Hình như mùa thu chưa trở về
Hình như người còn xa rất xa
Hình như mùa thu chưa trở lại
Có lẽ hoa vàng chưa toả hương
Có lẽ đêm quỳnh chưa ngậm sương
Có lẽ em là thu! Phải không?
Có lẽ em là hoa chưa vàng
Hình như hương nhụy chìm quên lãng.
..
 
Chúng không phải là những câu hỏi để trả lời, cho nên chúng có một phẩm chất hoàn toàn mới đối với ý thức của con người. Phẩm chất đó chính là sự kỳ diệu của chúng – Những câu TỰ HỎI chính mình. Tự hỏi không phải là việc nghi vấn, nó chính là việc bạn cảm thấy BÍ ẨN bởi sự tồn tại.
 
Đặt câu hỏi là một nỗ lực để làm sáng tỏ sự tồn tại; đó là một nỗ lực không chấp nhận sự bí ẩn của cuộc sống. Khi đó, bạn đã quy mọi bí ẩn xuống thành một câu hỏi. Câu hỏi có nghĩa là sự bí ẩn chỉ là một vấn đề cần giải quyết, và một khi đã được giải quyết thì sẽ không còn sự bí ẩn nào. Sự khác biệt giữa việc TỰ HỎI & nghi vấn là về phẩm chất. Tự hỏi không phải để được trả lời; nó chỉ đơn giản là nói rõ ràng về những điều kỳ diệu của thực tại. Mục đích của nó không phải là để được trả lời, mà nó chỉ đơn giản là đang nói chuyện với chính mình. Nó đang nói lên thành tiếng về những điều kỳ diệu mà mình cảm nhận được, nó đang cố gắng tự mình tìm ra đó là gì – Kỳ quan, bí ẩn…Nó không khao khát một câu trả lời như trong sự nghi vấn.
 
Tiếng còi tàu vọng từ thiên cổ
Nghìn đời chưa đến một sân ga.
 
Tại sao: Tiếng còi tàu vọng từ thiên cổ, mà nghìn đời vẫn chưa thể đến một sân ga?
Bởi vì tâm trí là rào cản, không có gì khác cản trở bạn với sự thật, chỉ là tâm trí của chính bạn.Tâm trí bao quanh bạn giống như một bộ phim, một bộ phim cứ lặp đi lặp lại, và bạn vẫn mải mê với nó, bị cuốn hút bởi nó. Đó chính là một ảo mộng bao quanh bạn, một câu chuyện cứ tiếp tục diễn ra. Và bởi vì bạn bị cuốn hút bởi nó, cho nên bạn cứ tiếp tục bỏ lỡ cái đang là. Tâm trí thì không có thật; nó chỉ là ảo mộng, nó chỉ là khả năng mơ mộng mà thôi. Tâm trí không là gì ngoài những mơ & mơ – những giấc mơ về quá khứ, về tương lai, về cách mọi thứ nên là, giấc mơ về những tham vọng…Hầu hết mọi người chúng ta đều liên tục mơ, rằng mình sẽ bắt đầu một chuyến tàu, và trong giấc mơ chúng ta luôn nhớ nó, rằng bạn sẽ thực hiện một cái gì đó, sẽ thực hiện nó…và bạn lại bỏ lỡ nó. Khi bạn đến sân ga, tàu đã rời đi. Bạn thấy nó rời đi, nhưng đã quá muộn; bạn không thể có được nó – NGHÌN ĐỜI CHƯA ĐẾN MỘT SÂN GA là thế! Tiếng còi tàu vọng từ thiên cổ chỉ là đơn giản là cách thức hoạt động của tâm trí; giấc mơ này tượng trưng cho tâm trí: NÓ LUÔN BỎ LỠ TẦU. Chắc chắn là như vậy. Tâm trí chỉ nghĩ và không bao giờ sống. Nó nghĩ rằng những suy nghĩ là đẹp, nhưng tất cả những suy nghĩ đều là như nhau cả, chúng chỉ là những giấc mơ. Bởi vì tâm trí cần có thời gian để suy nghĩ và thời gian không thể dừng lại cho bạn; nó tiếp tục tuột khỏi tay bạn. Tâm trí không thể sống trong khoảnh khắc này, bởi vì trước tiên nó phải quyết định, và khoảnh khắc sẽ bị mất trong suy nghĩ. Đến lúc tâm trí quyết định, thì thời điểm đó sẽ biến mất. Bạn luôn bị tụt lại phía sau. Tâm trí luôn chạy sau cuộc sống, tụt lại phía sau và liên tục bỏ lỡ nó.
 
Bạn không bao giờ có hai khoảnh khắc cùng nhau trong tay, chỉ có một khoảnh khắc duy nhất. Đó là khoảnh khắc nhỏ đến nỗi không có không gian để suy nghĩ di chuyển, không có không gian để cho suy nghĩ tồn tại. Hoặc bạn có thể SỐNG NÓ, hoặc bạn có thể NGHĨ NÓ. Sống nó là trở nên giác ngộ, còn nghĩ nó là bạn đã bỏ lỡ nó.
…….
Và người chìm khuất như cơn mơ
Cánh chim mùa cũ chừng bay mỏi
Đậu xuống hồn tôi chết sững sờ
……..
Thu ơi vẫn chìm trong mộng
Thu ơi thu vẫn còn hoang đường
……
Cứ ngỡ rằng thu, thu đã về
Đâu ngỡ rằng em, xa quá xa
Mà sao tiếng hú từ thiên cổ
Con tàu vô định một sân ga.
 
THU HOANG ĐƯỜNG phải chăng là một biểu tượng cho sự khao khát giác ngộ của con người, nó không phải là một mục tiêu, mà nó chỉ là sự nhận biết rằng chúng ta chỉ có khoảnh khắc hiện tại để sống. Khoảnh khăc tiếp theo không chắc chắn – nó có thể đến, nó có thể không đến. Trong thực tế ngày mai không bao giờ đến. Nó luôn luôn đến và đến, nhưng không bao giờ đến. Tâm trí luôn sống trong những ngày mai…Mà cuộc sống chỉ có thể ở hiện tại.
 
Chúa Jesus đã từng nói với các môn đệ của mình rằng: «Hãy nhìn những bông hoa ly ly trên cánh đồng, chúng thật đẹp làm sao! Ngay cả Solomon vĩ đại trong tất cả sự hùng vĩ của mình cũng không đẹp như những bông hoa ly ly khiêm nhường này.» Và bí mật là gì? Bí mật là chúng không nghĩ về ngày mai. Chúng sống bây giờ, chúng sống ở đây.
 
Sống bây giờ là trở nên giác ngộ, sống ở đây là trở nên giác ngộ, trở thành hoa ly ly là trở nên giác ngộ ngay lúc này! Hãy ra khỏi tâm trí, dừng mọi suy nghĩ về bất cứ điều gì lại, mà hãy thực sự sống ở đây và bây giờ. Đó là hương vị của sự giác ngộ. Nó không phải là mục tiêu, nó là trạng thái bình thường nhất của ý thức. Nó không có gì bất thường, nó không có gì đặc biệt. Cây cối được khai sáng, những con chim được khai sáng, những tảng đá được khai sáng, mặt trời và mặt trăng được khai sáng. Nhưng chỉ có con người là không, bởi vì chỉ có con người mới NGHĨ & BỎ LỠ.
 
Bài thơ THU HOANG ĐƯỜNG này, mới chỉ phản ánh việc con người nhận ra rằng mình đã & đang bỏ lỡ rất nhiều điều bí ẩn của cuộc sống. Con người không biết sống trong từng khoảnh khắc, không biết tận hưởng cái sự thông thường của cuộc sống một cách phi thường nhất. Cho nên, mùa thu thực sự còn chưa trở về, người còn xa rất xa, hoa vàng chưa toả hương, đêm quỳnh chưa ngậm sương, thu vẫn chìm trong mộng, thu vẫn còn hoang đường…Tất cả vẫn còn chưa được KHAI SÁNG, vẫn còn đang bị CHÌM KHUẤT NHƯ CƠN MƠ.
 
Tuy nhiên, nó cũng cho người đọc, có được những cái nhìn thoáng qua về một mùa THU THIÊN ĐƯỜNG, thông qua mùa THU HOANG ĐƯỜNG, người đọc sẽ nhận thấy những khoảng trống nhỏ trong giao lộ của tâm trí của mình, những khoảng trống nhỏ khi không có giao thông (Tâm trí là giao thông không ngừng, những ý nghĩ đang di chuyển, những kỷ niệm đang di chuyển, những tham vọng đang di chuyển – đó là giao thông chật chội ngày qua ngày). Đó là những khoảnh khắc của THIỀN ĐỊNH – là trạng thái không -tâm trí. Thiền là trạng thái tinh khiết của tâm thức, không có gì bên trong. Thông thường, tâm thức bạn đầy những rác rưởi, giống như cái gương phủ đầy bụi.
 
Nếu bạn đọc tiếp tập thơ đến bài thơ thứ 69 của tập thơ, chúng ta sẽ bắt gặp bài thơ: KHOẢNH KHẮC VÀ TRĂM NĂM, với những khổ thơ tuyệt đẹp như sau:
 
Khoảnh khắc là trăm năm
Xin bay cùng vô tận
Khoảnh khắc là hư không
Tôi ôm choàng hố thẳm.
 
Tựa đề của bài thơ là Khoảnh khắc VÀ trăm năm, nhưng đến khổ thơ cuối này, chúng thấy từ VÀ đã chuyển hoá thành từ LÀ. Khoảnh khắc LÀ trăm năm / Khoảnh khắc LÀ hư không. Thì người đọc mới ồ lên một tiếng rằng: Phải chăng đây mới chính là ẩn dụ của THU HOANG ĐƯỜNG? Chính bài bài thơ KHOẢNH KHĂC VÀ TRĂM NĂM này đã giúp cho tôi cảm nhận bài thơ THU HOANG ĐƯỜNG theo hướng như trên. Lần trước khi nghiên cứu tập thơ DẠ KHÚC, tôi đã nhận ra một điều là, thơ của Lê Văn Trung luôn có một sự liên kết vô hình giữa các bài thơ trong chính tập thơ, để tạo thành một bản trường ca, hết sức thú vị. Vì vậy, người đọc phải dành nhiều thời gian và công sức để đọc và cảm nhận, thì mới thấy được sự liên kết vi diệu đó của thơ ông.
 
Phải chăng, khi con người ta đã giác ngộ thì khoảnh khắc sẽ là vĩnh hằng, là bất biến. Nếu bạn càng yêu sâu sắc thời điểm hơn, thì bạn càng vào sâu nó hơn, càng có khả năng liên hệ với vĩnh hằng, bởi vì vĩnh hằng thấm đẫm mỗi thời điểm, nó theo sau thời điểm. Nếu bạn vào sâu trong nó, thời gian biến mất và vĩnh hằng biểu lộ chính nó.
 
Chỉ khi đó, con người mới cảm nhận được mùa thu không còn là THU HOANG ĐƯỜNG nữa, mà nó sẽ trở thành mùa THU THIÊN ĐƯỜNG. Chúng ta sẽ bắt gặp những mùa thu như thế trong tập thơ, được nhà thơ Lê Văn Trung gọi bằng những cái tên như: Mùa thu trong cơn mơ; Tình yêu trong cơn mơ; Ôm hoài chưa hết một cơn mơ; Đêm qua tôi mơ thấy em về; Giấc mơ chiều; Dạ khúc trăng; Phục sinh thơ…….
 
Xin kính mời các bạn hãy đến với những mùa thu như thế, ở trong tập thơ THU HOANG ĐƯỜNG gồm 93 bài thơ thật tuyệt diệu của nhà thơ Lê Văn Trung nhé.
 
LÊ VĂN CHUNG

Đường cũ người xưa

  Đường Cũ Người Xưa Con đường cũ còn nguyên từng phiến đá Hàng cây xưa vẫn xanh biếc lá giao mùa Nhưng rồi có một người không trở lại Vẫn m...